Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 27 - 02 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Quý

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chuyên

Bà Trần Thị Học

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Tạ Văn L, sinh ngày 08/6/1975 tại Ứ, Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Phó giám thị trại giam V2, đã bị thôi giữ chức vụ từ ngày 11/9/2024, bị tước danh hiệu Công an nhân dân ngày 20/9/2024; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn K (đã chết) và bà Đặng Thị M; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Văn L là Phó Giám thị Trại giam V2, phụ trách Phân trại số 4, địa chỉ: xã H, T, Vĩnh Phúc, từ tháng 6/2016 đến tháng 09/2023.

Anh Nguyễn Công M1 là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại P - Trại giam V2, từ ngày 08/3/2019, theo Bản án số 96 ngày 29/11/2018, của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc tuyên phạt 07 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ngày bắt 15/7/2018).

Khoảng cuối năm 2020 (không nhớ ngày cụ thể), bà Nguyễn Thị V (là mẹ đẻ M1) cùng chị Dương Thị Thu T (T có con chung với M1 nhưng chưa đăng ký kết hôn) đến P, Trại giam V2 để thăm gặp anh M1. Sau khi thăm gặp anh M1 xong, bà V một mình đến phòng làm việc của Tạ Văn L ở P trại số D để hỏi về việc anh M1 có được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù không. L thấy anh M1 đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù, có nhiều tiến bộ thể hiện ở việc chấp hành tốt nội quy trại giam, các lần xếp loại thi đua đều đạt loại khá, đủ điều kiện được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù trong đợt xét giảm dịp Tết nguyên đán 2021 nên khi thấy bà V hỏi về việc xét giảm, L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà V. L nói dối với bà V là L sẽ lo được việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho anh M1, chi phí hết 30.000.000đ, bà V đồng ý.

Vài ngày sau, bà V tiếp tục đi một mình đến phòng làm việc của L đưa cho L 30.000.000₫ gồm 60 tờ tiền mệnh giá 500.000đ đựng trong phong bì thư. Sau khi nhận tiền của bà V, L không chỉ đạo, không tác động, không đưa tiền cho ai để giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho anh M1.

Ngày 20/12/2020, Hội đồng Trại giam V2 xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù 04 tháng cho anh M1; Hội đồng thẩm định hồ sơ của Cục C (Bộ C1) thẩm định, đồng ý mức giảm như đề nghị; ngày 03/02/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định giảm thời hạn phạt tù 04 tháng cho Nguyễn Công M1.

Sau khi M1 được giảm án, bà V đến gặp Tạ Văn L và hỏi về việc đã nhờ rồi mà M1 chỉ được giảm có 04 tháng tù, không được như gia đình mong muốn. Thấy bà V nói vậy, L sợ bà V sẽ làm to chuyện, ảnh hưởng đến công việc của bản thân nên đã nói dối bà V là do quá trình xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù xảy ra nhầm lẫn, xét giảm cho M1 nhưng bị nhầm sang người khác nên đề nghị được trả lại 30.000.000đ nhưng Bà V không nhận mà bảo L giữ lại để lo cho M1 giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần sau.

Đợt xét giảm dịp Tết nguyên đán năm 2022, ngày 20/12/2021, Hội đồng Trại giam V2 xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù 11 tháng cho M1 và được Hội đồng thẩm định hồ sơ của Cục C (Bộ C1) thẩm định, đồng ý giảm 10 tháng; ngày 24/01/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định giảm thời hạn phạt tù 10 tháng cho Nguyễn Công M1.

Đến cuối năm 2022 (không nhớ ngày cụ thể), bà V tiếp tục một mình đến phòng làm việc của Tạ Văn L để hỏi thăm về tình hình cải tạo, chấp hành án của M1 và hỏi anh M1 có được ra tù trước Tết nguyên đán năm 2023 hay không. L thấy M1 đã chấp hành gần xong thời hạn phạt tù (còn khoảng chưa đến 17 tháng); có nhiều tiến bộ, chấp hành tốt nội quy trại giam, tích cực học tập, lao động cải tạo và các lần xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù M1 đều xếp loại khá. Mặt khác, thông thường mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù lần sau sẽ cao hơn lần trước, trong khi đó lần thứ 2 M1 đã được giảm 10 tháng nên khả năng nhiều M1 sẽ được ra tù trước Tết. Vì vậy, khi nghe bà V hỏi, L tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà V nên L đã tiếp tục nói dối bà V là sẽ lo được việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho M1 về trước tết, chi phí hết 40.000.000đ.

Vài ngày sau, bà V một mình đến gặp L tại cổng Phân trại số 4, đưa cho L 35.000.000đ (gồm 70 tờ mệnh giá 500.000đ đựng trong phong bì thư); khi đưa tiền bà V có trình bày về việc hoàn cảnh gia đình khó khăn chỉ lo được 35.000.000đ, L đồng ý.

Đợt xét giảm dịp Tết nguyên đán năm 2023, ngày 20/12/2022, Hội đồng xét giảm Trại giam V2 họp xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 16 tháng cho M1; được Cục C - Bộ C1 thẩm định, đồng ý giảm 15 tháng; ngày 13/01/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định giảm thời hạn phạt tù 15 tháng cho Nguyễn Công M1.

Sau 02 lần nhận số tiền 65.000.000đ của bà V, L không chỉ đạo, không tác động, không đưa tiền cho ai để xin giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân Nguyễn Công M1.

Do M1 không được xét về trước Tết nguyên đán năm 2023 nên bà V tiếp tục đến phòng làm việc gặp Tạ Văn L hỏi về việc này thì L nói dối bà V năm nay việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù khó khăn, ngặt nghèo nên M1 không được xét về trước tết. Do bà V trình bày hoàn cảnh khó khăn nên L đã trả lại cho bà V 10.000.000đ.

Ngày 15/02/2023, anh Nguyễn Công M1 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Năm 2023, anh Lâm Hoàng D, trú tại phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai là bạn cùng chấp hành án với anh M1 tại P Trại giam V đến nhà anh M1 gặp, nói chuyện. Tại đây, anh M1 và bà Nguyễn Thị V nói chuyện với D về việc bà V đến gặp ông L để đưa tiền xin xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho M1. D thấy có dấu hiệu tiêu cực nên ngày 04/5/2023 đã làm đơn tố cáo gửi Cơ quan Công an để điều tra làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Sau khi biết mình bị tố giác về việc chiếm đoạt tiền của bà V, Tạ Văn L đã chủ động trả lại 55.000.000đ cho bà V. Lần thứ nhất: khoảng đầu tháng 6/2023, L đến nhà bà V trả lại 20.000.000đ; lần thứ hai khoảng cuối tháng 6/2023, Tạ Văn L đến Bệnh viện N (khi anh M1 đang điều trị bệnh) trả cho bà V 35.000.000₫.

Ngày 21/8/2024, Tạ Văn L đến Công an tỉnh V đầu thú, khai nhận rõ hành vi phạm tội như nêu trên.

* Về thu giữ đồ vật tài liệu, chứng cứ của vụ án:

- Anh Lâm Hoàng D giao nộp cho Công an tỉnh V: 03 thẻ nhớ lưu trữ tổng số 47 file (tập tin) ghi âm ghi lại các cuộc nói chuyện giữa anh Lâm Hoàng D với bà Nguyễn Thị V; anh Lâm Hoàng D với anh Nguyễn Công M1; anh Nguyễn Công M1 với Tạ Văn L; bà Nguyễn Thị V với Tạ Văn L.

* Về kết luận giám định giọng nói:

- Ngày 04/3/2024, ngày 12/4/2024 và ngày 09/5/2024, V3 - Bộ C1 giám định đối với 47 file ghi âm do Lâm Hoàng D cung cấp, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 47 file ghi âm mẫu cần giám định.

- Ngày 24/9/2024 và 25/9/2024, V3 - Bộ C1 giám định bổ sung, kết luận: Tiếng nói của 03 người đàn ông và 01 người phụ nữ trong file ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Công M1, Lâm Hoàng D, Tạ Văn L và Nguyễn Thị V trong mẫu so sánh là của cùng một người; kết quả giám định phù hợp với lời khai của những người nêu trên khẳng định đề cập đến việc bà V xin giảm án cho M1, đưa tiền cho L như nội dung nêu trên.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSTĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Tạ Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đề nghị: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị xử phạt 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị tính án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Tạ Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận:

Lợi dụng chính sách giảm án cho phạm nhân vào dịp Tết nguyên đán các năm 2021, 2022, 2023. Trong thời gian giữ chức vụ Phó giám thị Trại giam V2, phụ trách Phân trại số 4 tại xã H, T, Tạ Văn L có hành vi đưa ra thông tin gian dối, bằng thủ đoạn lừa giảm án cho phạm nhân Nguyễn Công M1 là con trai bà Nguyễn Thị V, chiếm đoạt của bà V 02 lần, lần 1 chiếm đoạt 30.000.000đ, lần 2 chiếm đoạt 35.000.000đ. Tổng số tiền Tạ Văn L chiếm đoạt của bà V 65.000.000đ.

Thực tế anh Nguyễn Công M1, trong quá trình chấp hành án đều chấp hành tốt nội quy của trại giam, tích cực học tập, lao động cải tạo và các lần xếp loại thi đua đều xếp loại khá, đủ điều kiện để xét giảm án phạt tù. Anh M1 được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 03 lần = 29 tháng là đúng quy định của pháp luật. Tạ Văn L không tác động, không can thiệp, không xin giảm thời gian chấp hành hình phạt tù cho anh M1.

[3]. Hành vi nêu trên của Tạ Văn L đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể điều luật quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng"

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là lợi dụng chức vụ quyền hạn của chính công việc được giao đảm nhận, để đưa ra thông tin lừa dối đối với người nhà phạm nhân để xin xét giảm thời gian chấp hành hình phạt tù nhằm chiếm đoạt tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt: Quá trình hoạt động: Năm 1992 tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân tại Trại giam X - Đồng Nai; từ 1996 - 1998 học Trường T2 và Công tác tại Trường G (tỉnh Đồng Nai); từ 1999-2008 công tác tại Trường G1 (tỉnh Long An); năm 2015 công tác tại Cơ sở giáo dục T3 giữ chức vụ Phó Giám đốc; từ 2016 đến tháng 9/2023 công tác tại Trại giam V2 giữ chức vụ Phó giám thị phụ trách Phân trại số 4. Quá trình công tác, năm 2015 và 2022 được Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp và được Bộ trưởng Bộ C1 tặng Bằng khen (02 Bằng khen); năm 2006, 2012, 2014 được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; năm 2020 được Chủ tịch nước tặng Huy chương vì an ninh tổ quốc (04 huy chương). Bị cáo ra đầu thú tại cơ quan công an để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, tự nguyện bồi thường thiệt hại, lần đầu bị xét xử. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 lần nhận tiền của bà V nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thành tích xuất sắc trong công tác được Bộ trưởng Bộ C1 tặng thưởng 02 Bằng khen, được Chủ tịch nước tặng 04 Huy chương; bị cáo đầu thú. Bị cáo bị ung thư tuyến giáp hiện đang phải tiếp tục điều trị. Xét thấy bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần. Tuy nhiên bị cáo là người lao động luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và quy định của địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đây cũng là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, có nhiều thành tích trong công tác, có nhân thân và hoàn cảnh như bị cáo. Quan điểm đề nghị của đại diện Việm kiểm sát huyện T là phù hợp nhưng xét xử bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt và cho hưởng án treo vẫn đảm bảo đúng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cơ hội cho bị cáo tự rèn luyện, sửa chữa và thấy được chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng". Tuy nhiên bị cáo đã bị tước quân tịch, cho nghỉ việc từ tháng 9/2024, hiện tại bị cáo không có nghề nghiệp ổn định lại đang tiếp tục điều trị bệnh hiểm nghèo (ung thư), vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị V 02 lần đưa cho Tạ Văn L 65.000.000đ để xin giảm án cho Nguyễn Công M1 và số tiền 65.000.000₫ Tạ Văn L chiếm đoạt của bà V: Do bà V được Tạ Văn L thông báo muốn giảm án cho anh M1 thì phải nộp tiền; bản thân bà V có trình độ học vấn thấp (02/12), hiểu biết pháp luật hạn chế; bà V nhận thức và khai nhận đưa tiền cho Tạ văn L là để nộp Nhà nước, không nhận thức được đây là hành vi vi phạm pháp luật hình sự; hành vi phạm tội của Tạ Văn L cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có bị hại là bà Nguyễn Thị V; trước khi bị tố giác tội phạm, Tạ Văn L đã tự nguyện trả lại cho bà V 10.000.000đ; sau khi bị tố giác Tạ Văn L đã tự nguyện trả lại nốt cho bà V 55.000.00đ, nên không đề cập việc xử lý đối với bà V, không thu hồi tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 65.000.000đ.

- Đối với nội dung anh Lâm Hoàng D tố cáo một số phạm nhân chấp hành án tại Phân trại số D - Trại giam V2 bao gồm các anh Đặng Văn V1 sn 1985, trú tại phường P, Hoàn Kiếm H; anh Vũ Mạnh T1 sn 1975, trú tại phường H, H, Hà Nội; anh Nguyễn Phi A sn 1997, trú tại phường H, H, Hà Nội; anh Trần Quốc D1 sn 1989, trú tại xã Đ, Đ, Thái Bình, có nói chuyện với anh D về việc người nhà của các anh nêu trên có đưa tiền cho một số cán bộ Trại giam V2 để xin giảm án. Quá trình điều tra vụ án, những người nêu trên không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh tội phạm; CQĐT đã tổ chức điều tra, xác minh theo đúng quy định của pháp luật nhưng không chứng minh được người phạm tội và tội phạm nên không có căn cứ để giải quyết đối với tố cáo trên.

[7].Về xử lý vật chứng: 03 thẻ nhớ lưu trữ tổng số 47 file (tập tin) ghi âm ghi lại các cuộc nói chuyện giữa anh Lâm Hoàng D với bà Nguyễn Thị V; anh Lâm Hoàng D với anh Nguyễn Công M1; anh Nguyễn Công M1 với Tạ Văn L; bà Nguyễn Thị V với Tạ Văn L, là đồ vật lưu giữ chứng cứ của vụ án, chuyển theo hồ sơ vụ án, tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bà V đã nhận lại đủ số tiền 65.000.000đ không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác.

[9].Về án phí: Bị cáo Tạ Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  2. Căn cứ vào điểm c, đ khoản 2 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;

    Xử phạt bị cáo Tạ Văn L 02 (hai) năm tù cho hưởng treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn thử thách từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/02/2025.

    Giao bị cáo Tạ Văn L cho UBND phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Tạ Văn L có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Tạ Văn L phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Đảo;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Công an huyện Tam Đảo;
  • - UBND phường Định Trung, TP Vĩnh Yên;
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Quý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ta Van L lưa dao chiem doat tai sa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger