Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST

Ngày 12-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Bằng Phi – Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
  2. Bà Bành Mỹ Tuyên – Hiệu trưởng trường mẫu giáo Hoa Hồng, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Mai Chí Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ, ngày 13/01/2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Sơn Hậu, sinh ngày 05/3/2010 (tính đến ngày phạm tội có độ tuổi từ 14 năm 03 tháng đến 14 năm 09 tháng) tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số B, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sơn H, sinh năm: 1988 (đã chết) và bà Sơn Thị Q, sinh năm: 1987; A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/8/2024 cho đến nay. “có mặt”.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H1: Bà Thạch Thị L, sinh ngày 01/01/1966; Địa chỉ: Số B, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; “có mặt”.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo H1: bà Trịnh Hồng N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. “có mặt”.

  2. Họ và tên: Lâm Thái, sinh ngày 03/7/2008 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số C, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm C, sinh năm: 1982 và bà Lâm Thị M, sinh năm: 1985; A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/8/2024 đến ngày 29/10/2024 bị bắt tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “có mặt”.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T2: Bà Trần Thị S, sinh ngày 15/11/1963; Địa chỉ: Số B, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; “có mặt”.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo T2: bà Thái Thị D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. “có mặt”.

  3. Họ và tên: Lâm Q1 (tên gọi khác: B), sinh ngày 23/11/1999 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số F, ấp G, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh P, sinh năm: 1975 và bà Lâm Thị Xa T, sinh năm: 1976; A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần, ngày 31/7/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 tháng từ về tội Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2023, chưa được xoá án tích.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2024 đến ngày 29/10/2024 bị bắt tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “có mặt”.

- Bị hại: Ông Trần Hán T1, sinh ngày 20/02/1951. Địa chỉ: Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Sơn H1 và bị cáo Lâm T2 là bạn bè quen biết, khoảng 07 giờ ngày 03/7/2024, sau khi đi xe khách từ Tây Ninh về đến Bến xe B, bị cáo H1 rủ bị cáo T2 thuê người chạy xe ôm chở về nhà nhằm cướp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo T2 đồng ý. Bị cáo H1 mang theo nón bảo hiểm kiểu nón sơn màu xanh nhạt, bị cáo T2 chuẩn bị cây tua vít loại cán bằng nhựa màu vàng dài khoảng 10cm làm phương tiện phạm tội. Sau đó, cả hai thuê ông Trần Hán T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 94K1-982.55 chở về khu vực chùa X, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Trên đường đi, bị cáo H1 và bị cáo T2 kêu ông T1 điều khiển vào đường thuộc lô 8, ấp B, xã V, thành phố B; khi đến đoạn đường vắng, bị cáo H1 giả vờ nói là đã đến nơi để ông T1 dừng xe. Lúc này, bị cáo H1 dùng nón bảo hiểm loại nón sơn màu xanh đang đội trên đầu đánh vào mặt ông T1 làm rơi nón bảo hiểm xuống đất, ngay lập tức bị cáo T2 dùng tay mở khóa lấy xe mô tô thì ông T1 chạy đến giành lại; bị cáo H1 liền dùng tua vít mang theo đe dọa làm ông T1 hoảng sợ bỏ chạy và truy hô “bớ người ta ăn cướp”. Lúc này, bị cáo H1 lên xe để bị cáo T2 điều khiển chạy thoát về nhà của bị cáo T2 ở số C ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Tại đây, cả hai tháo hết 06 chi tiết dàn mũ áo của xe và biển kiểm soát 94K1-982.55 mang đi cất giấu nhằm tránh bị phát hiện rồi bị cáo T2 điều khiển xe chở bị cáo H1 đến nhà của bị cáo Lâm Q1 ở ấp G, xã V, thành phố B nhờ bán dùm. Bị cáo Q1 hỏi xe từ đâu mà có thì bị cáo T2 trả lời là do cướp của người khác, thấy xe còn mới nên bị cáo Q1 đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng để sử dụng, đồng thời hẹn hai ngày sau sẽ trả tiền. Theo thỏa thuận, khoảng 19 giờ ngày 05/7/2024, bị cáo Thái gắn lại biển kiểm soát rồi điều khiển xe mô tô cướp được chở bị cáo Q1 đến nhà của mẹ bị cáo Q1 ở thị xã V, tỉnh Sóc Trăng để trả tiền mua xe, trên đường đi thì bị Đội Cảnh sát giao thông- trật tự Công an thị xã V, tỉnh Sóc Trăng phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính đối với bị cáo Lâm Q1 và thu giữ xe mô tô nhãn hiệu biển kiểm soát 94K1-982.55, còn bị cáo T2 thì chạy thoát đến ngày 07/7/2024 đầu thú giao nộp 06 chi tiết dàn mũ áo của xe Wave RSX, 01 nón bảo hiểm màu đen có dán tem Công ty TNHH C1, 01 nón bảo hiểm loại nón sơn màu xám đen và 01 cái áo khoác màu xanh có dòng chữ “WHENEVER MEET HOT” của bị cáo Thái Đ và mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã thu hồi 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 94K1-982.55 do các bị can chiếm đoạt cùng 01 nón bảo hiểm kiểu nón sơn màu xanh nhạt của bị cáo Sơn H1 dùng để đánh ông T1, đối với tua vít bị cáo H1 đã vứt bỏ trên đường đi nên không thu hồi được.

Kết luận giám định độ tuôi trên người sống số: 102/KLGĐĐT-TTPYCT, ngày 10/7/2024 cua Trung tâm Pháp y Sở Y tế thành phố C, kết luận: “Qua quá trình khám giám định, kết quả khám chuyên khoa và cận lâm sàng, xác định Sơn H1 có độ tuôi từ 14 năm 03 tháng đến 14 năm 09 tháng (Tại thời điểm giám định ngày 08/07/2024).”

Bản kết luận định giá tài sản số: 62/KL-HĐĐGTS, ngày 06/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố B, kết luận:

“- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX..., màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát số 94K1-982.55...Tính đến ngày 03/7/2024 giá trị thành tiền còn lại của xe mô tô như trên là: 12.661.020 đồng...”

Tại bản Cáo trạng số 141/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố các bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lâm Q1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo Sơn H1 và bị cáo Lâm T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo Lâm T2 đầu thú. Khi thực hiện hành vi phạm tội “Cướp tài sản” bị cáo Sơn H1 chưa đủ 16 tuổi, bị cáo Lâm T2 chưa đủ 18 tuổi khả năng nhận thức hành vi còn hạn chế, từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 phạm tội “Cướp tài sản”. Bị cáo Lâm Q1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
  • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm i, o khoản 1 Điều 52; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sơn H1 từ 3 năm đến 3 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản”.
  • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lâm T2 từ 3 năm đến 3 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản".
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 323; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Q1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 nón bảo hiểm kiểu nón sơn màu xanh, 01 nón bảo hiểm loại nón sơn màu xám đen, 01 cái áo khoác màu xanh có dòng chữ “WHENEVER MEET HOT”,
  • + Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Sơn H1 trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát áp dụng để truy tố bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Cướp tài sản” khi ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên cần xem xét đến khả năng nhận thức còn hạn chế của bị cáo về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và đã thực sự ăn năn hối cải. Đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt, xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ nhết để bị cáo sớm về với gia đình.

Bị cáo Sơn H1 không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Sơn H1 không có ý kiến tranh luận, thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sơm về với gia đình.

Người bào chữa cho bị cáo Lâm T2 trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát áp dụng để truy tố bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Cướp tài sản” khi ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên cần xem xét đến khả năng nhận thức còn hạn chế của bị cáo về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và đã thực sự ăn năn hối cải. Đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt, xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ nhết để bị cáo sớm về với gia đình.

Bị cáo Lâm T2 không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lâm T2 không có ý kiến tranh luận, thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sơm về với gia đình.

Bị cáo Lâm Q1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 và bị cáo Lâm Q1 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh:

Vì động cơ vụ lợi bất chính, khoảng 08 giờ 15 phút ngày 03/7/2024 tại ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Sơn H1 và bị cáo Lâm T2 có hành vi sử dụng nón bảo hiểm và cây tua vít là phương tiện nguy hiểm đánh, đe dọa dùng vũ lực ông Trần Hán T1 để chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 94K1-982.55 có giá trị là 12.661.020 đồng. Đối với bị cáo Lâm Q1 không hứa hẹn trước và biết rõ tài sản do bị cáo Lâm T2, bị cáo Sơn H1 phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý tiêu thụ xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 94K1-982.55.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 là rất nguy hiểm, rất táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật; đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để nhằm chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai của người khác được pháp luật bảo vệ và còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Mặc dù các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội với nhau, nhưng xét thấy hành vi của các bị cáo chỉ mang tính bộc phát, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Đồng thời các bị cáo cùng nhau đi thực hiện hành vi cướp tài sản nên thể hiện vai trò của các bị cáo là ngang nhau.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Q1 là nguy hiểm cho xã hội, gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tạo điều kiện khuyến khích cho những người khác đi vào con đường phạm tội, còn gây ra mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Lâm Q1 là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người được pháp luật bảo vệ và bất khả xâm phạm nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tài sản mà bị cáo tiêu thụ là 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE RSX..., màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát số 94K1-982.55...Tính đến ngày 03/7/2024 giá trị thành tiền là: 12.661.020 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật những vẫn cố ý thực hiện nhằm để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài cá nhân của bị cáo. Mặc khác, tại thời điểm phạm tội bị cáo Sơn H1 chỉ mới 14 tuổi 03 tháng đến 14 tuổi 09 tháng, bị cáo Lâm T2 mới đủ 16 tuổi mà các bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội với mức độ nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử các bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Sơn H1 chỉ mới 14 tuổi 03 tháng đến 14 tuổi 09 tháng, bị cáo Lâm T2 mới đủ 16 tuổi nên cần áp dụng quy định tại các Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự khi xử phạt các bị cáo.

Đối với, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • + Bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự với tình tiết bị hại là người đủ 70 tuổi. Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Sơn H1 là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  • + Bị cáo Lâm Q1 có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 143/2023/HS-ST, ngày 31/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2023, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Lâm T2 tự nguyện ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Bộ luật Hình sự

[5] Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, gia đình thuộc diện khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Trần Hán T1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với: “01 nón bảo hiểm kiểu nón sơn màu xanh, 01 nón bảo hiểm loại nón sơn màu xám đen, 01 cái áo khoác màu xanh có dòng chữ “WHENEVER MEET HOT”. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản của bị cáo Lâm T2 dùng để thực hiện hành vi phạm tội và không giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Bị cáo Lâm T2 và bị cáo Lâm Q1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Sơn H1 là người trẻ em, có đơn xin miễn tiền án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Xét đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 về các tình tiết giảm nhẹ là có sơ sở theo quy định pháp luật nên được chấp nhận một phần.

[11] Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Sơn H1, bị cáo Lâm T2 phạm tội “Cướp tài sản”. Bị cáo Lâm Q1 phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sơn H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Hậu bị bắt đi thi hành án.

    Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm T2 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 29/10/2024.

    Căn cứ khoản 1 Điều 323; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Q1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 29/10/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với:
    • - 01 (một) gói niêm phong có chữ ký, ghi họ và tên Điều tra viên Lục Văn T3; bà Trịnh Hồng N; S và đóng dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan Công an xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, trên gói niêm phong có ghi dòng chữ “01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh, đã qua sử dụng”.
    • - 01 (một) gói niêm phong có chữ ký, ghi họ và tên Điều tra viên Lưu Chí N1; điểm chỉ của Lâm T2 và đóng dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, trên gói niêm phong có ghi dòng chữ “01 (một) cái áo khoác màu xanh, không có nhãn hiệu, phía sau lưng của áo có dòng chữ màu trắng “WHENEVER MEET HOT”, đã qua sử dụng và 01 (một) nón bảo hiểm màu xám đen, nhãn hiệu “Nón sơn”, đã qua sử dụng”.

    Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Lâm T2 và bị cáo Lâm Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Sơn H1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Công Bằng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bằng Phi Bành Mỹ T4

Bùi Công B1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 10/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 10/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 2 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger