|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trường Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Trung;
Ông Nguyễn Lương Đằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Lương Dương Tùng A - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 2000, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A1, sinh năm 1975 và bà Đoàn Thị T, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 35 phút ngày 29/10/2024, tại khu vực tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an thị trấn Đu phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn D, sinh năm 2000, trú tại: xóm G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ: Trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn D có 01 túi ni lông màu trắng có viền kẻ màu đỏ, bên trong có 06 túi ni lông màu trắng giống nhau đều có viền kẻ màu xanh, trong đó 04 túi ni lông bên trong chứa các mảnh viên nén màu hồng (nghi ma túy tổng hợp) và 02 túi ni lông có chứa chất bột màu trắng (nghi ma tuý loại Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong vào bì niêm phong ký hiệu D1 theo quy định. Tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu đen đỏ đã cũ, niêm phong vào bì ký hiệu D2 theo quy định.
Hồi 15 giờ 15 phút ngày 29/10/2024, tại Phòng K Công an tỉnh T, Cơ quan CSĐT Công an huyện P tiến hành:
- Cân xác định khối lượng và lấy mẫu giám định chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn D, trong bì niêm phong kí hiệu D1 được 0,494 gam, niêm phong toàn bộ vào bì niêm phong ký hiệu là A1 gửi giám định.
- Cân xác định khối lượng và lấy mẫu giám định các mảnh viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn D, trong bì niêm phong kí hiệu D1 được 0,225 gam, niêm phong toàn bộ vào bì niêm phong ký hiệu là A2 gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 1137/KL-KTHS ngày 06/11/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là: 0,494 gam. Mảnh viên nén màu hồng trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là: 0,225 gam.
Quá trình điều tra xác định: Ngày 28/10/2024, có một người đàn ông (D không biết tên tuổi địa chỉ của người này) sử dụng số điện thoại 0384.422.xxx gọi điện cho D làm quen và nói chuyện liên quan đến việc nghiện ma túy và muốn tìm mua ma túy ở khu vực thị trấn Đ, huyện P. Đến khoảng 09 giờ ngày 29/10/2024, khi D đang ở nhà tại xóm G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì nhận được cuộc gọi và tin nhắn của người này để hỏi D mua ma túy loại Heroine và ma túy tổng hợp dạng hồng phiến, với giá 1.000.000 đồng. D đồng ý và hai bên hẹn giao dịch tại thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, D đi đến khu vực ngã ba Quán V, thuộc xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy. Tại đây, D đã gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (D không biết tên tuổi địa chỉ của người này) 01 túi ni lông màu trắng có viền kẻ màu đỏ, bên trong có 06 túi ni lông màu trắng giống nhau đều có viền kẻ màu xanh, trong đó 04 túi ni lông bên trong đều có chứa các mảnh viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp và 02 túi ni lông bên trong đều chứa chất bột màu trắng là ma tuý loại heroine với giá 800.000 đồng. Mua xong, D bắt xe buýt đi xuống khu vực thị trấn Đ, huyện P để bán ma túy. Đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn Đ, P, D xuống xe, đứng đợi ở đường thì bị Công an huyện P kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Xác minh danh tính chủ thuê bao số điện thoại 0384.422.xxx là của chị Tô Thị Thùy L, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện P. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã xác định: chị L đăng ký số điện thoại trên từ tháng 01 năm 2024, đến tháng 8 năm 2024 thì chị L bị mất số điện thoại này và không biết ai là người đang quản lý và sử dụng số điện thoại đó. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ người đang sử dụng số điện thoại trên.
Tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của D xác định: Có một số tin nhắn có nội dung liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của D vào ngày 29/10/2024.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,484 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,110 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì D1 và các giấy gói; 01 bì niêm phong ký hiệu D2, bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu D2 và điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen, đỏ. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.
Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSPL, ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- * Về căn cứ điều luật và hình phạt: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 36 đến 42 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ sung vào ngân sách nhà nước.
- * Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vỏ bì niêm phong và giấy gói cùng với số ma túy thu giữ được của bị cáo; tịch thu, sung công phát mại sung vào ngân sách nhà nước có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen, đỏ đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn D.
- * Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn D nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Nguyễn Văn D nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng anh Nguyễn Văn H tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người chứng kiến vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của người chứng kiến; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt đối với người chứng kiến. Quá trình điều tra, người chứng kiến đã có lời khai, ý kiến trình bày lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến (anh H) theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Về chứng cứ buộc tội và tội danh bị truy tố: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cùng với những tài liệu đã thu thập tại hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ, sơ đồ phát hiện bắt giữ đối tượng; bản kết luận giám định, các bản tự khai, tường trình, biên bản hỏi cung, biên bản ghi lời khai của những người tham gia tố tụng, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:
Hồi 11 giờ 35 phút ngày 29/10/2024, tại khu vực tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn D đang có hành vi bán trái phép 0,494 gam ma túy loại Heroine và 0,225 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Tổ công tác Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho người khác nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Nội dung Điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết rõ chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại xấu đến con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép để kiếm lời.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn D thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn D là người đã sử dụng chất ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo đã cố ý mua chất ma túy để bán cho người khác nhằm thu lợi bất chính nên cần phải xử phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn D thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích kiếm lời; do đó, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tiền bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo D khai về nguồn gốc số ma túy H1 và M do mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực ngã ba Quán V, thuộc xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đặt mua ma túy của D qua số điện thoại 0384.422.xxx. Quá trình điều tra đã xác định số điện thoại trên là của chị Tô Thị Thùy L, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, P; tuy nhiên, chị L đăng ký số điện thoại trên từ tháng 01 năm 2024, đến tháng 8 năm 2024 thì chị L bị mất số điện thoại này và không biết ai là người đang quản lý và sử dụng. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ người đang sử dụng số điện thoại trên.
[7] Về vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo còn lại sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 chiếc điện thoại di động đã cũ nhãn hiệu REDMI màu đen, đỏ thu giữ của bị cáo, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Theo quy định của Luật phí và lệ phí năm 2015, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với bị cáo và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 106; 136; 293; 298; 329; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn D 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,484 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,110 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A3, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì D1 và các giấy gói.
Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động đã cũ thu của Nguyễn Văn D được niêm phong trong 01 bì niêm phong ký hiệu D2, bên ngoài ghi: Bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu D2 và điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen, đỏ.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 25/2025 lập ngày 12/02/2025 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trường Giang |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D
