TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 09/2025/HSST Ngày: 25-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bình; bà Dương Thị Thắm.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 25/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:
Trương Ngọc D - Sinh năm 1989, tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; KHTT: Tiểu khu L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Xuân B (đã chết) và bà Trịnh Thị T; có vợ là Mai Thị Hồng N và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/9/2024 đến nay - Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1985; địa chỉ: thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thành T1 - sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn V - sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn F, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Anh Vũ Thế C - sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã N (nay là xã N), huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Chị Đinh Thị H1 - sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Bà Mai Thị T2 - sinh năm 1958; địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11 năm 2023, chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1985, thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) cần số tiền 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) để cho chồng chị là anh Nguyễn Thành T1 đóng tiền chi phí đi xuất khẩu lao động. Do gia đình không có tiền nên chị H đến Ngân hàng N1 (A chi nhánh N2) làm thủ tục thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL904611, thửa đất số 1089, tờ bản đồ số 17, ở xã N, huyện N để vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, khi nhân viên ngân hàng về thẩm định thì thông báo cho vợ chồng chị H biết giá trị của thửa đất này không đủ điều kiện thế chấp vay được số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Lúc này, chị H biết chồng chị là anh T1 chơi thân với Trương Ngọc D (sinh năm 1989, ở Tiểu khu L, thị trấn N), biết D có nhiều mối quan hệ, quen biết rộng nên chị H đã gọi điện thoại cho D để nhờ D liên hệ phía ngân hàng cho thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL904611, thửa đất số 1089, tờ bản đồ số 17, ở xã N, huyện N, vay số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). D đồng ý và hẹn với vợ chồng chị H cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đưa cho D. Sau đó, chị H đến gặp D tại quán C1 (ở thị trấn N, huyện N). Tại đây vợ chồng chị H đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL904611, thửa đất số 1089, tờ bản đồ số 17, ở xã N, huyện N cho D để nhờ D liên hệ với ngân hàng thế chấp vay số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng)
Tiếp đó, Trương Ngọc D đã lên mạng tìm kiếm số điện thoại phòng chăm sóc khách hàng của một số ngân hàng và gọi điện để liên hệ vay vốn cho vợ chồng chị H. Tuy nhiên, do gia đình chị H đang nợ xấu nên không có ngân hàng nào đồng ý cho vay vốn. Thấy không thể vay vốn cho vợ chồng chị H được, D không thông báo lại và cũng không trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho vợ chồng chị H.
Đến tháng 12 năm 2023, do làm ăn kinh doanh bị thua lỗ nên D đã nảy sinh ý định bán thửa đất nói trên của chị H cho người khác để lấy tiền sử dụng vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân. Sau đó, D đã liên hệ với anh Vũ Thế C (sinh năm 1988, ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), là người làm nghề môi giới nhà đất rồi giới thiệu mình có thửa đất ở xã N đang muốn bán nhưng anh C không mua mà liên hệ với anh Nguyễn Văn V (sinh năm 1984, ở thôn F, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) để hỏi anh V có mua thửa đất trên không. Nghe anh C nói, anh V sử dụng tài khoản zalo của mình có tên “Nguyễn Văn V” liên lạc với D qua tài khoản zalo có tên “Dương M”. D gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên cho anh V. Anh V kiểm tra thấy thông tin của chủ thửa đất là chị Nguyễn Thị H nên anh V hỏi D thửa đất này của ai. D nói dối với anh V thửa đất này là của D mua lại của chị H nên anh V tin tưởng, giao dịch, thống nhất mua bán thửa đất trên từ D với giá 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) và hẹn ngày đến Văn phòng C2 (tiểu khu B, thị trấn N, huyện N) để làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 176m2, ở xã N, huyện N đồng thời bàn giao tiền chuyển nhượng thửa đất này.
Do trước đây làm nghề môi giới nhà đất, đã có một số lần giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C2, nên D quen biết và có số điện thoại của chị Đinh Thị H1 (sinh năm 1992, ở thôn H, xã N, huyện N) là cán bộ văn phòng C2. Sau đó, D đã sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Dương Mở” của mình liên lạc qua zalo với chị H1 qua tài khoản “Đinh Hương” của chị H1 để nói chị H1 làm sẵn cho D một bản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, D chụp ảnh thông tin của thửa đất, thông tin cá nhân của chị Nguyễn Thị H, thông tin của bên mua là vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Vũ Thị M1 gửi qua Zalo cho chị H1, đồng thời, nói với chị H1 số tiền ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Khi chị H1 làm xong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên, D đã gọi điện cho chị H để nói chị H chuyển cho D một số giấy tờ cá nhân, trong đó có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục vay tiền. Do tin tưởng nên sau khi chị H xin được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, D hẹn chị H đến Văn phòng C2 để ký vào Hợp đồng vay vốn ngân hàng và Hợp đồng giải ngân tiền vay vốn, chị H đồng ý.
Để thực hiện hành vi lừa dối, làm cho chị H tin tưởng việc đến Văn phòng C2 để ký vào Hợp đồng vay vốn ngân hàng và Hợp đồng giải ngân tiền vay vốn nên trước khi chị H đến, D đã gọi điện thoại cho chị Đinh Thị H1 nói khi D dẫn chị H đến ký vào Hợp đồng thì chị H1 không phải giải thích gì nhiều. Chị H1 hỏi D chủ nhân của thửa đất này là ai thì D nói thửa đất của chị H nhưng D đã mua lại và giờ bán cho anh V nên chị H1 tin tưởng.
Khi anh Nguyễn Thành T1 chở vợ là chị H đến Văn phòng C2 thì D đã có mặt ở đây từ trước. Nhìn thấy anh T1, sợ vợ chồng chị H phát hiện giấy tờ mà chị H ký là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên D nhờ anh T1 đến Nhà hàng T3 (ở xã N, huyện N) thay hộ cho D bóng đèn, anh T1 không biết mục đích của D nên đồng ý đi. Tiếp đó, chị H1 nói chị H kiểm tra kỹ văn bản rồi ký. D nói để D đưa Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị H rồi D đến bàn uống nước nói với chị H đây là Hợp đồng vay vốn, Hợp đồng giải ngân tiền vay vốn (nhưng thực chất đây là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Chị H tin tưởng nên không đọc văn bản mà ký vào các trang theo hướng dẫn của D. Sau khi ký xong giấy tờ, D nói chị H đi về, chờ Ngân hàng giải ngân, khi nào có tiền D sẽ gọi đến nhận, chị H đồng ý rồi ra về. Sau khi nói dối chị H, D đã sử dụng điện thoại liên lạc với anh Nguyễn Văn V hẹn ngày 30/12/2024 đến Văn phòng C2 để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất trên sang tên vợ chồng anh V và trả số tiền 300.000.000₫ mua thửa đất trên cho D.
Ngày 30/12/2023, anh Nguyễn Văn V đi cùng với anh Vũ Thế C đến Văn phòng C2 gặp D, tại đây anh Nguyễn Văn V đã đọc lại Hợp đồng chuyển nhượng và ký vào mục bên nhận chuyển nhượng của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 176m², ở xã N, huyện N. Sau khi ký xong Hợp đồng, anh V đã trả số tiền 300.000.000đ cho D bằng hình thức, chuyển số tiền 282.000.000đ qua dịch vụ SmatBanking từ số tài khoản Ngân hàng E, mở tại Ngân hàng P, chủ tài khoản là Nguyễn Văn V đến số tài khoản 3505272722727, mở tại Ngân hàng A, chủ tài khoản là Trương Ngọc D. Số tiền còn lại là 18.000.000đ, anh V trả trực tiếp bằng tiền mặt cho D.
Toàn bộ số tiền 300.000.000₫ có được từ việc bán thửa đất trên cho anh Nguyễn Văn V, D đã sử dụng hết vào việc trả nợ và chi tiêu cá nhân mà không đưa cho chị H. Sau khi giao dịch chuyển nhượng thửa đất trên xong, anh Nguyễn Văn V đã làm giấy ủy quyền cho chị Đinh Thị H1 gửi toàn bộ hồ sơ đến Chi nhánh Văn phòng Đ, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Vũ Thị M1.
Về phía chị H, sau khi ký giấy tại Văn phòng công chứng thì chị H có liên lạc với D để hỏi D đã vay được tiền cho chị chưa nhưng D nói phía ngân hàng chưa giải ngân, chờ thêm thời gian.
Ngày 20/3/2024, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, ở xã N, huyện N, cho anh Nguyễn Văn V và chị Vũ Thị M1 nhưng do cần tiền để sử dụng vào việc gia đình nên ngày 30/4/2024, anh Nguyễn Văn V đã dẫn người đến để bán thửa đất trên thì thấy gia đình chị H đang sinh sống trên thửa đất nên anh V thông báo cho chị H biết mình đã mua thửa đất này. Chị H nói với anh V, đất này là của chị, chị đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho D để nhờ liên hệ thế chấp vay tiền ngân hàng cho chồng đi xuất khẩu lao động. Anh V nói với chị H là anh V đã mua thửa đất này của anh Trương Ngọc D với giá 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).
Khi biết được thửa đất số 1089, tờ bản đồ số 17, ở xã N, huyện N của mình đưa để nhờ D thế chấp vay vốn ngân hàng nhưng lại bị D chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn V, chị H đã sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Hoài Diễm” để liên lạc với tài khoản Z “Dương Mở” của D để yêu cầu giải thích, nhưng D không thừa nhận việc đã bán thửa đất trên cho anh V mà nói nội dung là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất trên đang thế chấp trong ngân hàng, chờ ngân hàng giải ngân. Chị H nhờ anh Nguyễn Văn V chụp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 176m², ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, đứng tên anh V rồi gửi lại cho D, D mới thừa nhận là đã bán thửa đất của chị H cho anh Nguyễn Văn V.
Khi phát hiện Trương Ngọc D lừa bán mất thửa đất của mình, chị H đã nhiều lần đến gặp trực tiếp và liên hệ qua Zalo, số điện thoại, nhưng D trốn tránh không gặp. Chị H nói với D sẽ báo Công an nên D có đến nhà, nhắn tin, gọi điện thoại nói chị H cho D thêm thời gian để D chuộc giấy chứng nhận QSDĐ về trả cho chị H nhưng sau đó D cũng không thực hiện và cũng không bồi thường tiền cho chị H. Đến ngày 24/8/2024, chị H đã viết đơn trình báo gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện N tố giác Trương Ngọc D có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 176m², ở xã N, huyện N) của mình.
Ngày 29/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ban hành công văn số 387/CV-CSĐT về việc đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ tạm dừng giao dịch thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 176m², ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, để phục vụ xác minh, điều tra.
Về phía D, khi biết chị H viết đơn trình báo Cơ quan CSĐT Công an huyện N, do lo sợ nên D đến gặp chị H để xin chị rút đơn tố giác. Quá trình nói chuyện thỏa thuận, chị H đã sử dụng điện thoại di động của mình bật chế độ ghi âm, ghi lại toàn bộ nội dung cuộc nói chuyện giữa chị và D và giao nộp 02 file ghi âm trên cho Cơ quan điều tra.
Ngày 24/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ban hành Quyết định số 429/QĐ-TCGĐ, T4 - Bộ C3 giám định 02 File ghi âm mà chị H giao nộp để xác định file ghi âm có bị cắt ghép, chính sửa hay không. Tại Kết luận số 7359/KL-KTHS ngày 05/12/2024 V1 - Bộ C3 kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chính sửa trong 02 (hai) tệp tin âm thanh mẫu cần giám định và nội dung cuộc hội thoại trong mẫu cần giám định đã được chuyển sang văn bản.
Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HDĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: thửa đất số 1089, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 176m², ở xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, tại thời điểm 30/12/2023 có giá trị 272.800.000₫ (Hai trăm bảy mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ban hành công văn số 588/CV-CSĐT đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ hủy bỏ tạm dừng giao dịch thửa đất trên. Sau đó, chị H đã đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ để hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên từ anh V sang tên mình nên chị H không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Đối với anh Nguyễn Văn V, đã được Trương Ngọc D trả lại đầy đủ số tiền 300.000.000 đồng nên anh V không có yêu cầu, đề nghị thêm.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 07/CT-VKSNS ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trương Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS: Tuyên bố bị cáo Trương Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt Trương Ngọc D từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 11/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về TNDS: Bị hại đã nhận chuyển lại quyền sử dụng đất, anh V đã nhận đủ số tiền 300.000.000đ của bị cáo; bị hại và anh V không có yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn V là người mua đất của bị cáo, đã chuyển lại cho chị Nguyễn Thị H và nhận lại số tiền 300.000.000₫ của bị cáo nên không yêu cầu gì. Anh Vũ Thế C là người bị cáo nhờ môi giới cho anh V mua đất nhưng không biết đấy là đất của chị H. Chị Đinh Thị H1 là nhân viên của Văn phòng C2, đã kiểm tra hồ sơ đầy đủ giấy tờ, sau đó chuyển lại cho công chứng viên ký hồ sơ, không biết việc bị cáo dùng tài sản của chị H chuyển nhượng cho anh V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Lợi dụng việc chị Nguyễn Thị H tin tưởng, đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 1089, tờ bản đồ số 17, ở thôn A, xã N, huyện N, trị giá 272.800.000₫ (Hai trăm bảy mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) cho Trương Ngọc D để nhờ D thế chấp ngân hàng vay cho chị 500.000.000 đồng. D đã không vay được tiền cho chị H nhưng không trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nói trên cho chị mà nảy sinh ý định chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân.
Để thực hiện mục đích của mình, D đã đưa ra các thông tin gian dối để anh Nguyễn Văn V tin tưởng đây là thửa đất của D và thỏa thuận giá cả nhận chuyển nhượng thửa đất trên với giá 300.000.000 đồng. Đến ngày 30/12/2023, tại Văn phòng C2, anh V ký hợp đồng nhận chuyển nhượng thửa đất trên rồi đưa cho D 300.000.000 đồng. Sau đó, D tiếp tục nói dối chị H đến Văn phòng C2 để ký hợp đồng vay vốn và thủ tục giải ngân vốn của ngân hàng nhưng thực chất là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất từ chị Nguyễn Thị H sang vợ chồng anh Nguyễn Văn V. Do tin tưởng D nên chị H không đọc văn bản mà ký vào Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên.
Như vậy, bị cáo Trương Ngọc D đã dùng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H trị giá 272.800.000đ . Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm hoàn thành kể từ khi bị cáo D lừa dối chị H để chị H tin tưởng ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nói trên.
Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án và hậu quả đối với xã hội mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự, không bị xử lý hành chính.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đó là: Tự nguyện khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp với quy định của pháp luật để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174 BLHS.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Chị H đã đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ để hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên từ anh V sang tên mình, chị H không có yêu cầu đề nghị gì thêm, nên miễn xét.
Đối với anh Nguyễn Văn V, đã được bị cáo D trả lại đầy đủ số tiền 300.000.000 đồng nên anh V không có yêu cầu, đề nghị thêm, nên miễn xét.
[7] Tình tiết khác của vụ án:
Đối với chị Đinh Thị H1, là cán bộ của Văn phòng C2 (do bà Mai Thị T2 là Công chứng viên). Chị H1 và bà T2 đã kiểm tra thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đầy đủ theo quy định, không biết việc D có hành vi gian dối để chuyển nhượng thửa đất của chị H cho anh V nên hành vi của chị H1 và bà T2 không vi phạm pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn V khi giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nói với chị H1 số tiền ghi trong Hợp đồng chuyển nhượng thừa đất trên là 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) trong khi giá chuyển nhượng là 300.000.000đ. Tuy nhiên, giao dịch dân sự trên vô hiệu do chị H là chủ sở hữu của thửa đất chuyển nhượng bị lừa dối. Quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục hậu quả, trả lại tiền cho anh V để anh V chuyển nhượng lại thửa đất trên cho chị H nên CQĐT không xử lý anh V về hành vi trốn thuế.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
- Tuyên bố: Bị cáo Trương Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Ngọc D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 11/9/2024.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Ngọc D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Ngọc D bị xử phạt 7 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS
