|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Đôi
- Bà Khúc Thị Minh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại Điểm cầu trung tâm - Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng và Đcầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an huyện K xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Mạnh T sinh ngày 25/12/2002 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố H: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh C và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 19/9/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 04/10/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K; có mặt.
- Vũ Văn Q sinh ngày 18/7/2004 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố H: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 bà Hoàng Thị N; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 19/9/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị
tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 04/10/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K; có mặt.
Bị hại: Bà Lương Thị L, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố H mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Y, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố H mặt nhưng đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, Nguyễn Mạnh T2 khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 29M1-797.16 thuộc quyền sở hữu của Tvà Vũ Văn Q, chở Vũ Văn Q1 chơi trên đường T, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng, cả hai phát hiện 01 túi xách màu đen ở giỏ xe đạp của bà Lương Thị L đi ngược chiều. Q2 sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà L để lấy tiền chi tiêu và bảo T3 thực hiện, T đồng ý điều khiển xe quay lại áp sát xe đạp bà Lđể Q3 sau dùng tay phải giật túi xách rồi tăng ga bỏ chạy. Trên đường đi, Q4 tra túi xách và nói với T4 trong túi có 01 điện thoại di động Samsung A12 màu xanh nước biển và 01 ví cầm tay màu xanh bên trong có 606.000 đồng. Q cầm điện thoại và 606.000 đồng rồi ném túi xách, ví cầm tay xuống rìa đường. Qcùng T5 điện thoại đến cửa hàng của chị Phạm Thị Y ở thôn P, xã Đ, huyện K, bán cho chị Y được 1.100.000 đồng nhưng không nói cho chị Y1 điện thoại do phạm tội mà có. Sau đó, Tcùng Q5 tiêu hết số tiền này và 606.000 đồng chiếm đoạt của bà L.
Ngày 30/9/2024 bà Lương Thị L gửi đơn trình báo sự việc đến Công an huyện K. Ngày 01/10/2024, T Qđến Công an huyện K và giao nộp xe mô tô biển kiểm soát 29M1-797.16.
Ngày 02/10/2024, chị Phạm Thị Y2 nộp 01 điện thoại di động Samsung A12 cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của các Tráng, Q và truy tìm túi xách, ví cầm tay, nhưng không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Kkết luận “01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A12, màu xanh nước biển trị giá 1.500.000 đồng”.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A12, màu xanh nước biển cho bà Lương Thị L1 với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 29M1-797.16 chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý theo thẩm quyền.
Về dân sự: Nguyễn Mạnh TVũ Văn Q6 đã tác động gia đình bồi thường cho bà Lương Thị L số tiền 606.000 đồng. Đối với túi xách, ví cầm tay đã cũ, hỏng,
không còn giá trị sử dụng nên bà L2 yêu cầu TQ phải bồi thường. Đối với số tiền 1.100.000 đồng mà chị Y3 điện thoại của TQnhưng chị Y4 yêu cầu bồi thường.
Bị hại Lương Thị L khai: Trưa ngày 26/9/2024, bà điều khiển xe đạp từ nhà đến khu vực chợ M thuộc xã D, huyện K, bà mang theo 01 túi sách màu đen trắng để ở giỏ xe phía trước, trong túi có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh và 01 ví tiền có 606.000 đồng. Khi bà điều khiển xe qua Đền M1 100 mét thì bất ngờ có 02 nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô màu đỏ đen cùng chiều với bà; 02 thanh niên này áp sát xe bà đang điều khiển, trong đó thanh niên ngồi sau lấy túi đựng tiền của bà trong giỏ xe rồi bỏ chạy về hướng xã KThấy vậy bà hô hoán nhưng do buổi trưa vắng người nên không ai giúp bà. Ngày 30/9/2024, bà làm đơn trình báo sự việc đến Công an huyện Kđề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, bà biết Tvà Qchiếm đoạt tài sản của bà. Gia đình TQđã đến gặp bà xin lỗi và bồi thường đầy đủ giá trị tài sản cho bà, còn lại túi xách, ví cầm tay đã cũ, không còn giá trị sử dụng, bà không yêu cầu TQ bồi thường và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho TQ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Y khai: Chị làm nghề sửa chữa, mua bán điện thoại. Khoảng 15 giờ ngày 26/9/2024, chị đang ở cửa hàng thì thấy T5 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A12, lưng màu xanh nước biển, đã qua sử dụng, hỏi bán cho chị; T6 nói nguồn gốc điện thoại do phạm tội mà có. Chị xem điện thoại không để mật mã, không có dữ liệu bên trong nên chị trả giá 1.100.000 đồng, khi đó T7 ngoài hỏi người khác rồi quay vào đồng ý bán cho chị với giá 1.100.000 đồng. Chị nhận điện thoại và giao cho T1.100.000 đồng. Chiều ngày 02/10/2024, chị mới biết sự việc xảy ra nên chị mang chiếc điện thoại trên nộp cho Cơ quan Công an để giải quyết vụ án. Nay chị không yêu cầu TQphải hoàn trả lại chị số tiền 1.100.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đồng ý với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”. Ngoài ra các bị cáo khai: Xe mô tô BKS 29M1-797.16 là tài sản chung của các bị cáo, do các bị cáo đóng góp tiền mua chung để sử dụng chung, không là tài sản của ai khác. Mục đích các bị cáo giật tài sản của bà L3 lấy tiền chi tiêu cá nhân, các bị cáo không bàn bạc với ai; khi giật tài sản, các bị cáo không có lời lẽ chửi bới, đe dọa hoặc dùng vũ lực đối với bà L. Sau khi chiếm đoạt tài sản của bà L trong đó có 01 điện thoại, các bị cáo thống nhất mang bán điện thoại cho chị Y để lấy tiền chi tiêu cá nhân, khi bán điện thoại, các bị cáo không nói cho chị Y1 đó là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã tác động gia đình đến xin lỗi và bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bà L. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất. Đối với số tiền 1.100.000 đồng, các bị cáo bán điện thoại cho chị Y5 bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết, chưa hoàn trả chị Y
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị H(mẹ đẻ bị cáo T9 ông Vũ Văn T8(bố đẻ bị cáo Q7 bày: Sau khi sự việc xảy ra, các ông, bà mới biết, sau đó các bị cáo đã tác động gia đình đến gặp bà L4 lỗi, bồi thường thiệt hại cho bà LTrong đó bà H1 ra ½ giá trị bồi thường, ông Tlbỏ ra ½ giá trị bồi thường. Hai gia đình đã bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bà L Nay do tình cảm bố con, mẹ con; các ông, bà đều không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho bà L
Bị hại Lương Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Yvắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn vẫn giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm, trong đó bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-KT, ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố Nguyễn Mạnh TVũ V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Q8 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô BKS 29M1-797.16, do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội (đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý).
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- - Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Về tội danh, các tình tiết định khung, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, tại khu vực thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Mạnh T9 Vũ Văn Q9 dụng xe mô tô khi đang điều khiển trên đường công khai giật túi xách ở giỏ xe, bên trong có 01 điện thoại di động Samsung A12, trị giá 1.500.000 đồng và 606.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 2.106.000 đồng của bà Lương Thị L, rồi nhanh chóng bỏ chạy, trong khi bà L5 điều khiển xe đạp trên đường. Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo đã dùng xe mô tô khi đang điều khiển trên đường để giật tài sản của bà L là “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Do đó các bị cáo Nguyễn Mạnh T Vũ Văn Q đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự đúng như Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị tại phiên tòa.
- Đây là vụ án có đồng phạm, tính chất vụ án rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người. Cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo.
- Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Bị cáo Q là người đề xuất nên có vai trò cao hơn bị cáo T
- Nhân thân các bị cáo: Ngày 19/9/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản, các bị cáo đã nộp phạt xong từ ngày 23/9/2024; tính đến ngày 26/9/2024 (ngày các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này) mới được 03 ngày. Căn cứ Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì các bị cáo chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại đầy đủ; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo ra đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Sau khi xem xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi xã hội thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại. Nay bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Y không yêu cầu các bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền mua điện thoại do các bị cáo bán nên không đặt ra trách nhiệm cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Các bị cáo trực tiếp sử dụng xe mô tô BKS 29M1-797.16 thuộc quyền sở hữu của các bị cáo vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Vật chứng này đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý.
- Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Trong vụ án này, bà Phạm Thị Y mua điện thoại di động do các bị cáo bán nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không bị xử lý là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Mạnh TVũ Văn Q10
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh T10 Văn Q phạm tội “Cướp giật tài sản".
Xử phạt bị cáo Vũ Văn Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô BKS
29M1-797.16 (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Thị Đôi Khúc Thị Minh |
Vũ Thị Dịu |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Vũ Văn Quý: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Tráng: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024
