TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2025 “V/v Tranh chấp về Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
Ông Danh Út Nhỏ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa:
Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 131/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10/5/2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H – sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Danh H1 – sinh năm 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 22/4/2024 và tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 26/9/2024, Nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Chị và anh D H1 sau một thời gian tìm hiểu tình cảm với nhau thì tiến tới hôn nhân vào năm 2012. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo quy định của pháp luật vào ngày 05/4/2012.
Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc, hòa thuận được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, có nhiều bất đồng trong cách sống sinh hoạt nên thường xuyên xảy ra tranh cải, không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quý trọng chăm sóc giúp đỡ nhau, chung sống nhưng rất lạnh nhạt, mâu thuẫn kéo dài đến cuối năm 2016 thì vợ chồng tự ly thân từ đó đến nay khoảng hơn 8 năm. Từ khi ly thân đến nay vợ chồng không một lần gặp mặt, cũng không liên lạc nên vợ chồng không thể hòa giải những mâu thuẫn với nhau.
Trong quá trình chung sống chị và anh Danh H1 không có con chung.
Tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Nguyện vọng: Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Danh H1; Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: chị H xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đối với bị đơn Anh Danh H1 không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh H1 nhưng ông không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Danh H1; Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: không có và không yêu cầu nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình chung sống, do phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được với nhau nên chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Danh H1 được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (Bộ luật BLTTDS 2015).
Nguyên đơn chị Trần Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Danh H1 với tư cách là bị đơn trong vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, anh H1 không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc khác, anh Danh H1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H1.
[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Danh H1 xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 05/4/2012, theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hôn nhân của chị và anh H1 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của Chị Trần Thị H xin được ly hôn với anh Danh H1 vì lý do có nhiều bất đồng trong cách sống sinh hoạt nên thường xuyên xảy ra tranh cải, không còn hạnh phúc. Chị và anh H1 đã ly thân với nhau từ cuối năm 2016 đến nay và không có hướng hàn gắn. Đối với anh Danh H1, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh H1 đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Chị H khai rõ trong suốt thời gian ly thân, bà và anh H1 không gặp nhau, cũng không liên lạc hay trao đổi gì với nhau nên không hòa giải được những mâu thuẫn, bản thân bà thì không còn tình cảm gì với anh H1 và tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh H1. Hội đồng xét xử thấy rằng, chị H và anh H1 đã không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc; thời gian ông bà sống ly thân là để cả hai có thời gian cùng nhau nhìn lại những gì đã trãi qua nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên tình trạng hôn nhân giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Trần Thị H xác định vợ chồng không có con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung. Do đó, HĐXX không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị H xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung, chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Do anh D H1 không có ý kiến tại Tòa về vấn đề về tài sản chung, nợ chung; nếu sau này có phát sinh tranh chấp về các vấn đề trên thì anh H1 có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Án phí ly hôn Chị Trần Thị H phải nộp do có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Danh H1.
2. Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005954, ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/02/2025.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Kim Nhập |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị H yêu cầu ly hôn với anh Danh H1
