TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 20-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Văn Bạn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức- Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Phòng xử án - Trụ sở TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Quang H, sinh năm 1990 tại Bắc Ninh.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn G và bà Lã Thị C. Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bẩy. Có vợ Nguyễn Thị Huyền T, có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2024 đến ngày 25/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
- - Người bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn P2 (Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn H1 - chức vụ: Giám đốc). - Địa chỉ: Khu đô thị M, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Xin vắng mặt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 (Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H2 - giám đốc) - Địa chỉ: Thôn H, T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh). Xin vắng mặt.
- + Công ty cổ phần T5 - Địa chỉ: Số C Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- + Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 - Địa chỉ: Khu T, H, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
- - Người làm chứng:
- - Anh Trần Đức H3, sinh năm 1982, anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1979, anh Phạm Văn P, sinh năm 1984, anh Phùng Đức T1, sinh năm 1993, anh Vũ Văn H5, sinh năm 1990, anh Lê Ngọc T2, sinh năm 1992, anh Trần Gia P1, sinh năm 1978, anh Hoàng Văn V, sinh năm 1986, anh Lưu Văn T3, sinh năm 1988. (Người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quang H (có giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa, hạng T1, có giá trị đến ngày 26/09/2028) làm hợp đồng lái tàu cho Công ty TNHH T4, địa chỉ: xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo hợp đồng không xác định thời hạn ký ngày 27/7/2024. Khoảng 06 giờ, ngày 14/8/2024, Hoằng điều khiển tàu chở sắt mang số hiệu BN-2588 của công ty từ cảng H, địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hải Phòng về giao hàng tại Cảng T, địa chỉ: phường V, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H điều khiển tàu trên sông K đến khu vực cảng Nhà máy N theo hướng huyện T, thành phố Hải Phòng đi về phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Lúc này, tàu BN-2588 do H điều khiển đi ngược nước, mũi tàu cách lối vào kênh T, ngã ba Kèo của sông K thuộc địa phận: khu dân cư M, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương khoảng 100m. Đây là đoạn sông nằm trong khu vực ngã ba Kèo của sông K, có chiều dài 140m, chiều rộng 130m. Kênh Tắt có bờ trái (phía trái theo quy chuẩn luồng tàu chạy) là bờ đất thuộc phường Đ, thành phố C; bờ phải (phía phải theo quy chuẩn luồng tàu chạy) là bờ đảo cồn nổi giữa ngã ba sông. Khi này, H quan sát thấy cách mũi tàu BN-2588 về hướng phường P, thành phố C khoảng 300m có tàu đẩy mang số hiệu HD-5976 đẩy 04 phương tiện chở hàng trên boong mang các số hiệu HD-5977, HD-5978, HD-5979, HD-5980 của Công ty TNHH P2, địa chỉ: khu đô thị M, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương do anh Trần Đức H3, sinh năm: 1982, nơi cư trú: thôn Đ, xã S, huyện B, thành phố Hà Nội (có giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa, hạng T1, có giá trị đến ngày 14/7/2028) là lái tàu theo hợp đồng không xác định thời hạn ký ngày 01/10/2023 điều khiển theo hướng ngược chiều, xuôi nước đang chuẩn bị đi vào cửa kênh Tắt ngã Ba Kèo. H và H3 cùng phát 02 chớp đèn tín hiệu để báo hiệu cho nhau biết mình tiếp tục điều khiển tàu đi vào ngã Ba Kèo. Khi đi vào cửa kênh T, anh H3 điều khiển tàu đẩy không cho tàu chuyển hướng từ bờ trái sang bờ phải của sông mà điều khiển mũi đoàn tàu đẩy bám vào bờ trái kênh còn phần lái (đuôi đoàn tàu đẩy) sẽ di chuyển dần từ bờ trái sang bờ phải của kênh làm tầu đẩy quay ngang lòng sông. Cùng lúc đó, Nguyễn Quang H điều khiển tàu BN-2588 đi ngược nước đến nơi có biển cảnh báo nguy hiểm nhưng không giảm tốc độ để có thể xử lý các tính huống va chạm, gây mất an toàn với phương tiện khác; không giữ khoảng cách an toàn giữa phương tiện mình đang điều khiển với phương tiện khác nên mũi tàu BN - 2588 đi ngược nước bị đẩy văng, lắc từ bờ phải về hướng giữa sông làm mỏ neo treo phía trước bên phải mũi tàu va chạm vào mạn phải của phương tiện chở than số hiệu HD-5980. Sau va chạm phương tiện chở than số hiệu HD-5980 bị rách vỡ tại vị trí mạn phải kích thước (56x34)cm, tách khỏi đoàn tàu đẩy lật úp và nổi trên mặt sông, toàn bộ than trên phương tiện số hiệu HD-5980 đổ xuống và hòa tan trong lòng sông; tàu chở sắt mang số hiệu BN-2588 bị nứt vỡ tại vị trí mỏ neo bên phải mũi tàu kích thước (38x15)cm.
* Tại Bản kết luận giám định số: 192/KL-KTHS ngày 31/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:
- - Dấu vết làm sạch bùn đất, trượt xước kim loại bám dính tạp chất màu nâu đỏ (dạng sơn) rải rác ở mặt ngoài đầu neo và tai neo bên trái của neo bên phải mũi có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái, từ vết này làm cho mỏ neo bên phải cắm sâu vào mạn thuyền phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, làm móp méo biến dạng, rách thủng kim loại ở mặt ngoài mạn bên phải thân tàu có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái.
- - Dấu vết trượt xước sơn, kim loại bám dính các tơ sợi (dạng sợi nilon) rải rác ở mặt ngoài con trạch giữa mạn tàu bên phải có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, làm bẹp kim loại bám dính tạp chất màu đen và các mặt vụn (dạng sợi nilon) màu trắng ở mặt ngoài con trạch phía trên cùng bên phải mạn tàu có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái.
*Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 56/KLĐG ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C, tỉnh Hải Dương kết luận:
Định giá tại thời điểm ngày 14/8/2024:
- - Tiền thay thế, sơn, gò, hàn và công tháo lắp, sửa chữa vết trượt xước sơn, làm móp méo biến dạng, rách thủng kim loại ở mặt ngoài mạn bên phải thân tàu của phương tiện chở hàng trên boong mang tên PS Đông Bắc 17.4, số hiệu: HD-5980 là 65.265.945 đồng.
- - Tiền thay thế, sơn, gò, hàn và công tháo lắp, sửa chữa vết trượt xước sơn, kim loại tại mặt ngoài đầu neo và tai neo bên trái của neo bên phải mũi tàu và vết rách kim loại, trượt xước sơn, kim loại tại mặt ngoài mạn bên phải của tàu chở hàng khô mang tên T 99, số hiệu: BN-2588 là 19.197.500 đồng.
- - 808,01 tấn than, loại: Cám 6a.3 theo chứng thư giám định số: 0002594 ngày 12/8/2024 của Trung tâm giám định - Chi nhánh Tổng Công ty Đ, được xuất kho theo phiếu xuất kho số: 6C24NSH ngày 13/8/2024 của Công ty Cổ phần T5 - Tổng Công ty Đ có giá trị là 1.478.270.455 đồng.
Bị can Nguyễn Quang H nhận thức và biết rõ hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ đến nơi có biển cảnh báo nguy hiểm, không giảm tốc độ để có thể xử lý các tính huống va chạm, gây mất an toàn với phương tiện khác; không giữ khoảng cách an toàn giữa phương tiện mình đang điều khiển với phương tiện khác là hành vi vi phạm pháp luật, tuy thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hại nhưng cho rằng hậu quả đó không xẩy ra nên bị can thực hiện hành vi với lỗi vô ý vì quá tự tin.
Trong quá trình điều tra, bị can Nguyễn Quang H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị can đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại và được người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự; Trần Đức H3 điều khiển đoàn tàu đẩy số hiệu HD 5976 không chấp hành biển báo hiệu đường thuỷ nội địa cũng có một phần lỗi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: bị can Nguyễn Quang H đã thoả thuận bồi thường cho Công ty TNHH T4 cùng Công ty TNHH P2 về thiệt hại vụ tai nạn ngày 14/8/2024 do mình gây ra, đại diện 02 công ty trên không yêu cầu gì khác.
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả cho chủ sở hữu: Công ty TNHH P2 tàu đẩy mang số hiệu HD-5976 đẩy 04 phương tiện chở hàng mang các số hiệu HD-5977, HD-5978, HD-5979, HD-5980 và các giấy tờ liên quan; Công ty TNHH T4 tàu tự hành số hiệu BN-2588 và các giấy tờ liên quan; Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa số: 00093015 do Cục Đ1 cấp ngày 14/07/2023 cho Trần Đức H3.
Tại bản cáo trạng số 07/VKS-HS ngày 08/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Quang H về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”” theo điểm c khoản 3 Điều 272 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xác định Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.
Người đại diện hợp pháp của bị hại xin xét xử vắng mặt có quan điểm xác nhận bị cáo đã bồi thường thỏa đáng cho gia đình bị hại nên gia đình không yêu cầu gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người liên quan xin xét xử vắng mặt có quan điểm xác nhận bị cáo đã bồi thường thỏa đáng không có yêu cầu gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”;
- Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 272; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự 2019.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Về hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp: Trả lại bị cáo 01 giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T1 số 00002585 do Cục Đ1 cấp ngày 26/9/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, mong Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tuy nhiên đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Về trách nhiệm dân sự đã thỏa thuận xong với bị cáo nên không yêu cầu bồi thường. Nhận thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với BLTTHS.
[2] Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như: lời khai của bị cáo, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận định giá tài sản, lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay.
Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ, ngày 14/8/2024, tại khu vực kênh tắt, ngã ba K giao cắt giữa sông K và sông K thuộc địa phận khu dân cư M, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Quang H (có giấy chứng nhận thuyền trưởng theo quy định) điều khiển tàu tự hành chở sắt mang số hiệu BN-2588 đi vào khu vực ngã ba sông (ngược nước theo hướng huyện T, thành phố Hải Phòng đi phường P, thành phố C) là nơi luồng giao nhau nhưng không giảm tốc độ để có thể xử lý các tình huống tránh va, gây mất an toàn đối với phương tiện khác, không giữ khoảng cách an toàn giữa phương tiện mình đang điều khiển với phương tiện khác dẫn đến xảy ra va chạm với tàu đẩy mang số hiệu HD-5976 đẩy 04 phương tiện chở than mang các số hiệu HD-5977, HD-5978, HD-5979, HD-5980 do Trần Đức H3 điều khiển (theo hướng ngược chiều, xuôi nước). Sau va chạm phương tiện chở than số hiệu HD-5980 bị rách vỡ, tách khỏi đoàn tàu đẩy lật úp và nổi trên mặt sông, toàn bộ than trên phương tiện số hiệu HD-5980 đổ xuống và hòa tan trong lòng sông; tàu chở sắt mang số hiệu BN-2588 bị nứt vỡ tại vị trí mỏ neo bên phải mũi tàu. Hậu quả vụ tai nạn làm số than trên xà lan số hiệu HD-5980 mất, thiệt hại 1.478.270.455 đồng; xà lan số hiệu HD-5980 bị hư hỏng thiệt hại 65.265.945 đồng; tàu chở sắt số hiệu BN-2588 bị hư hỏng, thiệt hại 19.197.500 đồng. Nguyễn Quang H điều khiển tàu tự hành chở sắt mang số hiệu BN-2588 đi ngược nước vào khu vực ngã ba sông là nơi luồng giao nhau nhưng không giảm tốc độ để có thể xử lý các tình huống tránh va, gây mất an toàn đối với phương tiện khác, không giữ khoảng cách an toàn giữa phương tiện mình đang điều khiển với phương tiện khác vi phạm khoản 3 Điều 36 và khoản 2 Điều 37 Luật giao thông đường thuỷ nội địa, hậu quả làm thiệt hại tài sản của người khác với tổng giá trị là: 1.543.536.400 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ” do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật tại bản cáo trạng đã viện dẫn là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm sự an toàn của phương tiện giao thông đường thủy, bị cáo đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường thủy khi đến nơi có biển cảnh báo nguy hiểm nhưng không giảm tốc độ để có thể xử lý các tính huống va chạm, gây mất an toàn với phương tiện khác; không giữ khoảng cách an toàn giữa phương tiện mình đang điều khiển với phương tiện khác nên dã gây tai nạn với phương tiện tham gia giao thông khác làm thiệt hại lớn về tài sản cho phương tiện khác. Vì vậy cần áp dụng mức án phù hợp tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý kỷ luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi xảy ra tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền thỏa đáng, đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tích cực ủng hộ phong trào tại địa phương như quỹ chất động màu da cam, quỹ hội chữ thập đỏ; trong thời công tác trong ngành công an bị cáo có thành tích xuất sắc được tặng nhiều danh hiệu chiến sĩ tiên tiến và giấy khen của Công an tỉnh B; bị cáo có bố đẻ được tặng huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét về nguyên nhân tai nạn bị hại cũng có một phần lỗi không chấp hành biển báo hiệu đường thuỷ nội địa. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự có nhân thân tốt, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Hành vi của bị cáo chỉ gây thiệt hại đối với tài sản đã được khắc phục bồi thường cho bị hại, không bị thiệt hại về người. Hơn nữa bị hại có một phần lỗi. Đối chiếu với quy định của pháp luật. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên nên HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo mà cần áp dụng Điều 65 BLHS để bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục cũng đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lỗi của bị cáo là lỗi vô ý nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái tàu đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Do không cấm hành nghề đối với bị cáo nên cần trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T1 số 00002585 do Cục Đ1 cấp ngày 26/9/2023.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về những vấn đề khác: Đối với Trần Đức H3 điều khiển đoàn tàu đẩy đến nơi có biển “Báo hiệu chuyển hướng luồng đặt bên bờ trái” nhưng không chấp hành báo hiệu đường thủy nội địa, không cho tàu chuyển hướng từ bờ trái sang bờ phải của sông vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 36 và khoản 2, Điều 37 Luật giao thông đường thuỷ nội địa. Tuy nhiên do H3 là lái tàu thuê theo hợp đồng nên không xác định giá trị thiệt hại của phương tiện chở hàng trên boong HD-5980 và hàng hóa trên phương tiện do Trần Đức H3 điều khiển là “Thiệt hại của người khác” để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H3 nên Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H3 là phù hợp.
Vụ án không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 272; Điều 50, khoản 1 Điều 54, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; điểm d khoản 1 Điều 125; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ Biện pháp bảo lĩnh đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng cấm hành nghề lái tàu đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Quang H 01 giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T1 số 00002585 do Cục Đ1 cấp ngày 26/9/2023 (đã trả tại phiên tòa).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đã giải thích chế định án treo và nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
-Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Minh |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ)
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH – TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ
