|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-02-2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Tự;
Ông Phạm Hoàn Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Rum Ba - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tuyết Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh T, sinh năm: 2001; Có mặt.
Cư trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc D, sinh năm: 2001; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cư trú tại: Thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn Võ Thị Thanh T trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn Trần Quốc D tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn ngày 23/03/2022, giấy Chứng nhận kết hôn số 26 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Quá trình sống chung với nhau xảy ra mâu thuẫn, nguyên dân do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần bị chồng đánh đập, chửi mắng, xúc phạm nên chị T không chấp nhận được nữa đã sống ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa, hôn nhân không hạnh phúc nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Hoàng Minh T1, sinh ngày 14/11/2022 hiện nay đang sống với nguyên đơn, nên nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Trần Quốc D tại biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2024 trình bày: Anh Dũng tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với chị T theo đúng quy định pháp luật, sống hạnh phúc đến giữa năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, chị T bỏ nhà đi, hiện nay hai vợ chồng không sống chung với nhau nữa, nguyên đơn yêu cầu ly hôn thì bị đơn thống nhất.
Về con chung: Có 01 con chung là Trần Hoàng Minh T1, sinh ngày 14/11/2022, hiện nay đang ở với chị T, thống nhất giao chị T nuôi, không cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng do bị đơn vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đều tuân thủ đúng quy định pháp luật. Đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật; Về đề xuất giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn; Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng Minh T1, sinh ngày 14/11/2022 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không giải quyết về cấp dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Võ Thị Thanh T yêu cầu xin ly hôn với bị đơn Trần Quốc D có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Phú Yên. Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Võ Thị Thanh T kết hôn với bị đơn Trần Quốc D trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/03/2022, số 26 tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình sống chung, cả hai hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn đã trầm trọng dẫn đến tháng 05/2024 thì hai vợ chồng sống ly thân, hiện nay không ai còn tình cảm, không ai quan tâm đến cuộc sống của đối phương, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Cả hai đều đồng ý ly hôn. Căn cứ theo quy định pháp luật tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình “Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. HĐXX xét có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xin được ly hôn với bị đơn.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Hoàng Minh T1, sinh ngày 14/11/2022 hiện nay đang sống với chị T, nguyên đơn yêu cầu trực tiếp nuôi con, bị đơn cũng thống nhất, điều này là phù hợp với lợi ích của con và phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản sản chung, nợ chung. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét các đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với các nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Võ Thị Thanh T được ly hôn với bị đơn Trần Quốc D.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng Minh T1, sinh ngày 14/11/2022 cho nguyên đơn Võ Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn Võ Thị Thanh T tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004872 ngày 24/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Thị Thu Hiền |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, giải quyết ly hôn vắng mặt bị đơn.
