|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 20/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Học;
2. Ông Dương Viết Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23 tháng 6 năm 1985 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Dương Văn C (đã chết); Con bà: Hà Thị L (sinh năm 1967); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nông Thị B, sinh năm 1986, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án: Ngày 02/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 19/4/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân :
- Tại bản án số 124/2017/HSST, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 341/2018/HSST, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả Bản án số 124/2017/HSST buộc Dương Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 24 tháng tù. Đến ngày 06/02/2020 chấp hành Bản án, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/10/2024 cho đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1967
Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hà Thị L, sinh năm 1967 (Có mặt)
Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Người làm chứng: Ông Mạc Văn C1, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2024, Dương Văn Đ, sinh năm 1985, nơi cư trú: xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Wave, màu vàng, BKS: 20H1-015.37 đi từ nhà Đấu tại xóm T, xã Đ, huyện P xuống thị trấn H, huyện P để làm Bảo hiểm xã hội. Khi đi đến khu vực Bệnh viện Đa khoa huyện P thuộc tổ D, thị trấn H, huyện P, Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đi vào khu vực bệnh viện gửi xe rồi đi đi bộ xung quanh tìm sơ hở. Đấu đi vào khoa Nhi của Bệnh viện thì phát hiện tại vị trí góc giường trong cùng bên phải tại Phòng số 4 có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng của bà Hoàng Thị N, sinh năm 1967; trú tại: xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang cắm sạc pin. Đấu lại gần lấy chiếc điện thoại tắt nguồn cất giấu vào túi quần bên trái của Đ đang mặc rồi đi ra khỏi phòng, đi đến khu vực gửi xe lấy xe ra về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ mang theo chiếc điện thoại trộm cắp được, đi làm tại Công ty TNHH N2 thuộc khu công nghiệp Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên rồi xóa mật khẩu icloud trên điện thoại, tháo sim, xoá danh bạ, cất điện thoại giấu vào tủ đồ cá nhân của công ty.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Dương Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 24/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành mở tập tin video Camera an ninh ghi lại hình ảnh tại hiện trường ghi lại hình ảnh một người đàn ông mặc áo phông cộc tay màu xám, cổ áo màu đen, bên dưới mặc quần bò tối màu đang có hành vi trộm cắp điện thoại di động Iphone 6S Plus màu vàng cũ, đã qua sử dụng; Đấu xác nhận người trên chính Đấu trộm cắp điện thoại vào ngày 23/10/2024 tại khu Khoa Nhi bệnh viện đa khoa huyện P.
Ngày 24/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện P có Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6S Plus màu vàng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 71 ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện P kết luận điện thoại di động nêu trên có giá trị 850.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị N không yêu cầu bồi thường dân sự.
Vật chứng của vụ án:
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu vàng, BKS: 20H1- 015.37, số khung: RLHHC1201BY088350, số máy: HC12E2888322, chủ sở hữu là bà Hà Thị L (Sinh năm 1967, mẹ đẻ Đấu);
- 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ chụp cả đầu, không có cằm, màu trắng, phía trước và sau dán nhãn có ký hiệu “HJC HELMETS", được niêm phong trong hộp cattông ký hiệu “B1”;
- 01 chiếc áo phông cộc tay có cổ màu xám, phần viền cổ áo, hai viền ống tay màu đen trắng, áo cũ đã qua sử dụng;
- 01 đôi dép màu đen, trong đó chiếc dép bên trái có cỡ 42, chiếc dép bên phải có cỡ 45, tại phần quai phía trước bị rách được niêm phong trong niêm phong ký “AB”;
- 01 quần bò dài, màu đen, cũ đã qua sử dụng 01 quần bò dài, màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong hộp cattông ký hiệu “QĐ”.
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD niêm phong bì thư ký hiệu DVD100 lưu giữ video ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản của Dương Văn Đ.
Đối với 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6s Plus màu vàng cũ đã qua sử dụng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho bị hại quản lý sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSPB ngày 07/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Dương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị N không yêu cầu bồi thường dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật TT hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ chụp cả đầu, không có cằm, màu trắng, phía trước và sau dán nhãn có ký hiệu “HJC HELMETS", được niêm phong trong hộp cattông ký hiệu “B1”; 01 chiếc áo phông cộc tay có cổ màu xám, phần viền cổ áo, hai viền ống tay màu đen trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trong đó chiếc dép bên trái có cỡ 42, chiếc dép bên phải có cỡ 45, tại phần quai phía trước bị rách được niêm phong trong niêm phong ký “AB”; 01 quần bò dài, màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong hộp cattông ký hiệu “QĐ”.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD niêm phong bì thư ký hiệu DVD.100 lưu giữ video ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản của Nguyễn Hồng Đ1.
- Trả lại cho bà L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu vàng, BKS: 20H1- 015.37, số khung: RLHHC1201BY088350, số máy: HC12E2888322, chủ sở hữu là bà Hà Thị L (Sinh năm 1967, mẹ đẻ Đấu);
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định:
Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2024 tại khu vực Bệnh viện Đ, thuộc tổ dân phố D, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Đ1 đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại đi động trị giá 850.000 đồng của bà Hoàng Thị N, Tuy giá trị tài sản mà Đ1 trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, nhưng bản thân Đấu hiện đang có 01 tiền án về tội cắp tài sản, chưa được xoá án tích nên hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hoàng Thị N đã nhận lại tài sản bị mất là chiếc điện thoại nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nhưng vì lòng tham, Đ1 lợi dụng sự sơ hở của người khác đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu và có 01 tiền án chưa được xoá án tích nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) ........;
b) Đã bị kết án về tội này...... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; ...”
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Đ1 đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, vì vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đ1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Sau khi xét hành vi, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cũng như đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Xét thấy mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ1 không có tài sản gì, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Hoàng Thị N không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự.
[8] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ chụp cả đầu, không có cằm, màu trắng, phía trước và sau dán nhãn có ký hiệu “HJC HELMETS", được niêm phong trong hộp cattông ký hiệu “B1”; 01 chiếc áo phông cộc tay có cổ màu xám, phần viền cổ áo, hai viền ống tay màu đen trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trong đó chiếc dép bên trái có cỡ 42, chiếc dép bên phải có cỡ 45, tại phần quai phía trước bị rách được niêm phong trong niêm phong ký “AB”; 01 quần bò dài, màu đen, cũ đã qua sử dụng niêm phong trong hộp cattông ký hiệu “QĐ” bị cáo đã mặc để thực hiện hành vi phạm tội ngày 23/10/2024 không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD niêm phong bì thư ký hiệu DVD.100 lưu giữ video ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản của Dương Văn Đ.
- Đối với: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu vàng, BKS: 20H1- 015.37, số khung: RLHHC1201BY088 350, số máy: HC12E2888322, chủ sở hữu là bà Hà Thị Là L mẹ đẻ Đ, bà L không biết việc Đ mượn xe để trộm cắp tài sản vì vậy cần trả lại cho bà L quản lý, sử dụng.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Dương Văn Đ 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp catton niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B1, bên trong có chứa 01 chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ chụp cả đầu, không có cằm, màu trắng, phía trước và sau dán nhãn có ký hiệu “HJC HELMETS", mũ cũ, đã qua sử dụng; 01 hộp giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu AB bên trong có chứa 01 chiếc áo phông cộc tay có cổ màu xám, phần viền cổ áo, hai viền ống tay màu đen trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 đôi dép màu đen, trong đó chiếc dép bên trái có cỡ 42, chiếc dép bên phải có cỡ 45, tại phần quai phía trước bị rách; 01 hộp catton niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu QĐ, bên trong có chứa 01 quần bò dài, màu đen, cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bà Hà Thị L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu vàng, BKS: 20H1- 015.37, số khung: RLHHC1201BY088350, số máy: HC12E2888322, dung tích xilanh 97, xe có đủ gương chiếu hậu cả hai bên, phần vỏ yếm bên phải xe có vết nứt, phần yên bên phải xe có vết rách đã cũ, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng (có 01 chìa khoá xe);
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2025 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân huyện Phú Bình).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
