Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/KDTM-PT

Ngày: 20 - 02 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng thi công.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2024/TLPT-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2024 “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/KDTM-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 62/2025/QĐPT-KDTM ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV X1;

Địa chỉ: E đường Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn Q(giấy ủy quyền ngày 22/7/2020)– có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Đàm Bảo H thuộc Văn phòng luật sư Đàm Bảo H – có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH L;

Địa chỉ: B đường P, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân T; Địa chỉ: Số B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền số 028/2022/GUQ ngày 26/8/2022) – có mặt

- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 16/12/2016 của nguyên đơn là công ty TNHH MTV X1 trình bày:

Công ty TNHH MTV X1 (sau đây gọi tắt là công ty X1) và chi nhánh công ty TNHH L (sau đây gọi tắt là công ty L) ký hợp đồng kinh tế số 32/HĐKT/2012 ngày 29/10/2012. Nội dung Hợp đồng thỏa thuận công ty X1 thực hiện thi công 70% khối lượng cọc khoan vữa thuộc dự án thành phần số 4: Cải tạo kênh và đường dọc kênh T - L tại Quận F.

Công ty X1 đã thực hiện thi công đúng tiến độ (khởi công khoan cọc đầu tiên vào ngày 08/12/2012, kết thúc khoan cọc cuối cùng vào ngày 28/09/2013), đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ.

Hồ sơ nghiệm thu hai đợt cuối là đợt 7 và đợt 8, phía công ty X1 đã tiến hành các thủ tục bàn giao cho Chi nhánh công ty L. Phía công ty L vẫn không ký nghiệm thu và thanh toán số tiền còn lại dù công trình đã được vào sử dụng.

Tổng kinh phí thực hiện hợp đồng là 9.867.000.000 đồng;

Công ty L đã thanh toán tổng số tiền là 8.800.225.875 đồng (thanh toán đợt cuối ngày 19/5/2015 số tiền 400.000.000₫)

Số tiền còn phải thanh toán 1.066.774.125 đồng.

Công ty X1 yêu cầu khởi kiện:

  1. Hoàn tất thủ tục nghiệm thu đợt 7, đợt 8 để thanh toán khoản tiền 1.066.774.125 đồng.
  2. Thanh toán lãi suất trả chậm theo mức lãi suất do Ngân hàng thương mại mà công ty X1 mở tài khoản công bố kể từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi công ty L đã thanh toán đầy đủ (khoản 2 Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP). Tạm tính từ ngày 19/5/2015 đến hết ngày 18/12/2016 theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP S (lãi suất tạm tính 14%/năm tương đương 1,16%/tháng):

    (1.066.774.125 x 1,16%) x 19 tháng = 235.117.001 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu công ty L hoàn tất thủ tục nghiệm thu của đợt 7 và đợt 8 nữa. Chỉ giữ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn thiết theo Hợp đồng là 1.066.774.125 đồng và tiền lãi thực tế phát sinh.

Tại bản tự khai, các bản trình bày ý kiến và quá trình hòa giải, tại phiên tòa bị đơn là công ty L trình bày:

1. Về nội dung hợp đồng và thực hiện hợp đồng:

a) Nội dung hợp đồng: Tổng giá trị khối lượng của gói thầu cọc khoan vữa Ø 1000 mm, thuộc dự án thành phần 4, cải tạo kênh và đường dọc kênh T - L, gói thầu XL.12.TP4, địa điểm tại Q, TP . là 9.115.860.000 đồng. Theo Điều 1 hợp đồng kinh tế số 32/HĐKT/2012 ngày 29/10/2012 (Sau đây gọi tắt là "Hợp đồng") bị đơn đã giao cho nguyên đơn thi công 70% giá trị gói này với giá trị hợp đồng là 7.012.200.000 đồng, giá này đã bao gồm VAT và mọi chi phí khác, riêng phần vật tư xi măng do phía bị đơn cấp để cho nguyên đơn thi công.

b) Nội dung thực hiện hợp đồng: Tới tháng 05/2013 tổng giá trị lũy kế nguyên đơn đã thực hiện được là 9.047.707.500 đồng, như vậy, nguyên đơn đã thực tế thi công 99,3% tổng khối lượng gói thầu cọc khoan vữa Ø 1000mm.

Trong đó:

  • - Giá trị thi công trong hợp đồng là: 7.012.200.000 đồng;
  • - Giá trị thi công ngoài hợp đồng là 2.035.507.500 đồng .

3. Về thanh toán:

- Nguyên đơn đã xuất 09 hóa đơn VAT có giá trị 9.047.707.500 đồng và bị đơn đã thanh toán tổng cộng là 9.000.225.875 đồng cho nguyên đơn, chiếm 99,5% số tiền mà nguyên đơn đã thực hiện (Ghi chú: hóa đơn và chứng từ thanh toán đã nộp đủ cho Tòa án)

- Trong đó:

  • + Bị đơn đã thanh toán đủ 100% giá trị tới 95% khối lượng của hợp đồng 8.595.322.125 đồng/9.000.225.875 đồng,
  • + Về thanh toán 5% tiền bảo hành, tuy rằng chưa đủ điều kiện như bị đơn đã thanh toán 404.903.750 đồng/452.385.375 đồng, chiếm 89,5% giá trị số tiền bảo hành (9.047.707.500 đồng x 5%), giá trị số tiền bảo hành còn lại của hợp đồng là 47.481.625 đồng
  • * Về nội dung thỏa thuận của hợp đồng và quy định của pháp luật về điều kiện để được hoàn trả 5% tiền bảo hành là 452.385.375 đồng.

Theo thỏa thuận tại Điều 4 của hợp đồng về điều kiện hoàn trả 5% tiền bảo hành là: "giữ lại 5% giá trị bảo hành. Thời gian bảo hành công trình là 12 tháng kể từ ngày ký biên bản nghiệm thu hạng mục và tiến hành bàn giao cho bên A"; "Giá trị 5% bảo hành còn lãi sẽ được bên A thanh toán ngay sau khi bên B cung cấp cho bên A thư bảo lãnh bảo hành công trình". Như vậy, theo thỏa thuận để nhận được tiền bảo hành 5% thì phải thỏa mãn 03 điều kiện thanh toán:

  • - Một là phải "ký biên bản nghiệm thu hạng mục" tới nay hai bên chưa ký biên bản nghiệm thu hạng mục gói thầu cọc khoan vữa Ø 1000 mm cho nên chưa đủ điều kiện thanh toán tiền bảo hành 5%
  • - Hai là phải "tiến hành bàn giao cho bên A", nguyên đơn không bàn giao hạng mục công trình gói thầu cọc khoan vữa Ø 1000 mm cho bị đơn, nên chưa đủ điều kiện thanh toán tiền bảo hành 5%
  • - Ba là phải có "thư bảo lãnh bảo hành công trình", nguyên đơn không có văn bản thư bảo lãnh ngân hàng, nên chưa đủ điều kiện thanh toán bảo hành 5%

Theo Điểm a Khoản 2 Điều 45 Nghị định 48/2010 và Đ c Khoản 2 Điều 46 Nghị định 43 /2015 quy định “Bên nhận thầu chỉ được hoàn trả bảo đảm bảo hành công trình sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành”. Như vậy, theo quy định của pháp luật được hoàn trả tiền bảo hành phải thỏa mãn hai điều kiện là: (1) Là sau khi kết thúc thời hạn bảo hành; (2) Phải được chủ đầu từ xác nhận bằng văn bản là đã hoàn thành công việc bảo hành.

Như nội dung thỏa thuận của hợp đồng và quy định của pháp luật nêu trên thì chưa đủ điều kiện để được hoàn trả 100% số tiền bảo hành 5% có giá trị là 452.385.375 đồng, nhưng trên thực tế bị đơn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và thanh toán hoàn trả tiền bảo hành cho nguyên đơn là 404.903.750 đồng/452.385.375 đồng, chiếm 89,5% giá trị số tiền bảo hành là hết sức có lợi cho nguyên đơn. Số tiền bảo hành còn lại là 47.481.625 đồng, đề nghị Tòa án không tính lãi chậm thanh toán, vì tới ngày 28/05/2024, nếu xét về điều kiện thanh toán tiền bảo hành 5% thì phía nguyên đơn cũng chưa đủ điều kiện để nhận thanh toán số tiền bảo hành này.

Tất cả các hồ sơ giá trị khối lượng mà nguyên đơn đã nộp cho Tòa án do nguyên đơn tự in, tự lập không có sự xác nhận nghiệm thu về khối lượng của tư vấn giám sát, của nhà thầu theo quy định tại điểm 3.1 Điều 3; Điểm 4.3 Điều 4; Điểm 5.1 Điều 5 của hợp đồng quy định về hồ sơ thanh toán và Đ b khoản 1 Điều 19 Nghị định số 48/2010; Điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 37/2015 quy định về hồ sơ thanh toán hợp đồng xây dựng theo đơn giá cố định. Cho nên các chứng cứ nêu trên không có giá trị để chứng minh theo thỏa thuận của hợp đồng và quy định của pháp luật về xây dựng.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 163/2024/KDTM-ST
ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
quyết định:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 35; khoản 2 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm c Khoản 1 Điều 217; Khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 301, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • - Căn cứ Pháp lệnh án phí và lệ phí năm 2009;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công ty TNHH MTV X1 về việc yêu cầu bị đơn, công ty TNHH L hoàn tất thủ tục nghiệm thu Đợt 7, 8.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH MTV X1, buộc công ty TNHH L thanh toán cho công Hữu Lộc số tiền như sau:

    Tiền gốc: 1.031.822.625 đồng

    Tiền lãi: 835.432.000 đồng

    Tổng cộng: 1.867.254.625 (một tỷ tám trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày 02/8/2024 cho đến khi Công ty L thi hành án xong, Công ty L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 06 tháng 8 năm 2024, bị đơn Công ty TNHH L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty TNHH L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại cấp sơ thẩm xử vượt quá yêu cầu khởi kiện như: Nguyên đơn không yêu cầu thanh toán bảo hành 5%; đưa thiếu người tham gia tố tụng là Công ty S1, ông H1, ông K1. Yêu cầu phải trưng cầu giám định giá trị khối lượng đợt 7, 8.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu thanh toán trong đó có 5% bảo hành. Các biên bản đợt 2, 3, 4, 5 đều do ông Hồ K và bên bị đơn đã thanh toán, nên biên bản đợt 7, 8 là hợp lệ, chủ đầu tư đã thanh toán toàn bộ giá trị công trình cho bị đơn nên việc đưa những người khác tham gia tố tụng không cần thiết và bị đơn phải thanh toán trả cho nguyên đơn. Đề nghị Tòa án giữ nguyên án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Về nội dung vụ án cấp sơ thẩm đã xem xét giải quyết đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét về thẩm quyền, người tham gia tố tụng, thời hiệu khởi kiện:

Ngày 16/12/2016 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện trước thời gian Ban quản lý dự án tổng nghiệm thu gói thầu, nên được xác định trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015.

Do nguyên đơn khởi kiện ban đầu nộp đơn tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý, sau đó chuyển cho Tòa án nhân dân Quận 6 nơi thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận. Tòa án nhân dân Quận 6 xác định đơn vị tư vấn giám sát là công ty có yếu tố nước ngoài nên đã chuyển hồ sơ theo thẩm quyền giải quyền cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng. Trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xác định công ty C (một doanh nghiệp thành lập tại Mỹ, gọi tắt là CDM) là đơn vị tư vấn, giám sát toàn bộ khối lượng của toàn bộ dự án thành phần số 4 “cải tạo kênh và đường dọc kênh T – Lò Gốm” theo Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 10/HĐ-NCĐT ngày 09/5/2012 với Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình nâng cấp đô thị Thành phố H. Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp số tiền còn lại phải thanh toán phát sinh trên Hợp đồng số 32/HĐKT/2012 về việc thi công hạng mục cọc xi măng, gói thầu XL12.TP4 (là gói thi công nhỏ trong tổng dự án). Nhưng các bên đều xác định toàn bộ dự án thành phần số 4 đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng và Ban quản lý dự án đã thanh toán toàn bộ gói thầu, nên Công ty C1 không còn quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nào trong quan hệ tranh chấp này, cũng như Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình nâng cấp đô thị Thành phố H (nay là Ban Q1 công trình dân dụng và công nghiệp, sau đây gọi tắt là Ban Quản lý dự án) cũng không còn quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nào phát sinh từ tranh chấp của các bên đối với Hợp đồng số 32. Do vụ án đã thụ lý và kéo dài thời gian giải quyết, tại phiên tòa sơ thẩm mới xem xét toàn bộ các nội dung, nên không cần thiết phải chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân Quận 6 gây khó khăn và kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án. Việc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm không làm mất quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.

Về việc tham gia tố tụng của công ty A: Nguyên đơn trình bày đã cung cấp hồ sơ cho Công ty A theo đề nghị của Công ty L tuy nhiên đại diện Công ty L không thừa nhận nội dung này. Không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh Công ty A có quyền, nghĩa vụ liên quan nào trong vụ án này. Vì vậy, cấp sơ thẩm không đưa công ty An Xuân T1 vào tham gia tố tụng là phù hợp.

[2] Về nội dung kháng cáo về số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn:

Nguyên đơn khởi kiện, buộc bị đơn thanh toán số tiền 1.066.774.125 đồng là tiền nợ thi công theo Hợp đồng kinh tế số 32/HĐKT/2012 ngày 29/10/2012 và tiền lãi phát sinh từ ngày 19/5/2015 đến ngày thực tế thanh toán theo lãi suất cho vay của Ngân hàng TMCP S là 14%/năm.

Ban Q (HUUI-IMU) là chủ đầu tư Gói thầu xây dựng bờ kè, đường dọc kênh, cầu bắc qua kênh, giếng tách dòng và tuyến cống bao từ KM2+945.23 đến KM3+329.40, hạng mục 2 giai đoạn 2 Dự án thành phần số 4: Cải tạo kênh và đường dọc kênh T - L. Ngày 09/5/2012, HUUI-IMU ký Hợp đồng số 11/HĐ-NCĐT với công ty Liên doanh L (công ty L) theo đó công ty L đã được chấp thuận hồ sơ dự thầu và được giao để thực hiện, hoàn thành và khắc phục mọi sai sót của công trình này.

Ngày 27/11/2012, Công văn số 1595/NCĐT-KTHT của Ban Q đã chấp thuận công ty TNHH X1 là nhà thầu phụ thi công cọc xi măng đất cho gói thầu XL12.TO4 do nhà thầu VIC đệ trình và được sự chấp thuận của tư vấn CDM tại công văn số THLG-XL12/LO-12-0057 ngày 15/10/2012.

Như vậy, hợp đồng kinh tế số 32/HĐKT/2012 ngày 29/10/2012 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng 32) ký kết giữa Chi nhánh Công ty Liên doanh L và Công ty TNHH X1 (sau đây gọi tắt là công ty X1) là hợp pháp và phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên.

Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác nhận nội dung Hợp đồng 32. Nội dung thỏa thuận hạng mục thi công là cọc xi măng đất Ø 1000 mm, giá trị hợp đồng là 7.012.200.000 (bảy tỷ không trăm mười hai triệu hai trăm nghìn) đồng theo đơn giá cố định trong suốt quá trình thi công. Đơn giá thi công đã bao gồm 10% thuế VAT, chi phí vận chuyển thiết bị đến công trường, chi phí nhân công, máy thi công, biện pháp an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường, chi phí quản lý điều hành công trình, chi phí lán trại, nhà điều hành, chi phí điện nước cho sinh hoạt và thi công, chi phí mua bảo hiểm máy móc, người tham gia thi công và các chi phí khác để Công ty X1 hoàn thành công việc. Đơn giá không bao gồm vật tư xi măng và các chi phí thí nghiệm. Giá trị phát sinh được lập thành phụ lục Hợp đồng để làm cơ sở thanh toán.

Sau đó, các bên đã ký kết Phụ lục Hợp đồng không đề ngày tháng nhưng thể hiện năm 2013 với nội dung bổ sung điều chỉnh nội dung Điều III “giá trị hợp đồng” của Hợp đồng 32 với giá trị phát sinh là 2.819.848.000 (hai tỷ tám trăm mười chín triệu tám trăm bốn mươi tám nghìn) đồng.

Tổng giá trị sau khi bổ sung phần phát sinh là 9.832.048.500 (chín tỷ tám trăm ba mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm) đồng.

Phía công ty L phủ nhận giá trị của Phụ lục Hợp đồng và số tiền giá trị phát sinh là 2.819.848.000 đồng với những lý do sau: Phụ lục Hợp đồng không đề ngày tháng nên không có giá trị pháp lý, và ông T là đại diện ủy quyền của công ty L cũng không hề biết có sự tồn tại của bản phụ lục hợp đồng này. Bên cạnh đó, công ty L chỉ xác nhận tổng giá trị hợp đồng 32 bao gồm phần giá trị phát sinh là 9.047.707.500 đồng. Hội đồng xét xử đã xem xét:

Đối với Phụ lục của Hợp đồng số 32 mặc dù bản hợp đồng không ghi ngày tháng và chỉ thể hiện năm 2013 nhưng có chữ ký của đại diện pháp luật Công ty L và Công ty X1 cũng như có đóng dấu của 2 công ty. Nội dung các bên thỏa thuận tại Phụ lục Hợp đồng số 32 là phù hợp với quy định tại Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên có giá trị pháp luật và có hiệu lực phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết.

Các bên đều xác nhận tại phiên tòa sơ thẩm thì ngày thi công cuối cùng của Công ty X1 là ngày 28/9/2013. Căn cứ bảng tổng hợp khối lượng cọc thanh toán đợt 8 (từ ngày 30/07/2013 – 28/9/2013) giá trị lũy kế tính đến ngày 28/9/2013 là 9.613.100.500 (chín tỷ sáu trăm mười ba triệu một trăm nghìn năm trăm) đồng đã có khấu trừ: (1) tiền thí nghiệm khoan lõi cọc 51.480.000 đồng; (2) tiền điện 108.217.500 đồng; (3) dầu diesel 59.202.000 đồng; (4) thuê xe cuốc phục vụ 35.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền khấu trừ là 253.899.500 đồng. Mặc dù bảng xác định khối lượng công việc hoàn thành theo Hợp đồng (đợt 8) chỉ có chữ ký của đại diện bên nguyên đơn là Công ty X1 nhưng số liệu khối lượng thi công thể hiện là phù hợp với Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành ngày 01/10/2013 được ký xác nhận giữa đại diện Công ty L là ông Lâm Long H1 (kỹ sư trưởng công trình) và đại diện Công ty X1 là ông Nguyễn Thành V (chỉ huy trưởng). Tại phiên tòa, ông T đại diện Công ty L trình bày không biết ông Lâm Long H1 cũng như không xác nhận ông H1 là nhân viên của Công ty L nên cho rằng tài liệu do ông H1 hay ông Tạ Tuấn K1 ký không có giá trị. Tuy nhiên, đối chiếu với hồ sơ quyết toán đợt 5, đợt 6 đã được các bên thanh toán xong với nhau thì các biên bản xác định khối lượng cọc thanh toán cũng như biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành tại hai bộ hồ sơ này cũng đều do ông Lâm Long H1 và ông Nguyễn Thành V ký tên. Đây là phương thức làm việc của hai bên được ghi nhận cả quá trình thực hiện Hợp đồng số 32. Một căn cứ khác để xác định công ty X1 thi công 8 đợt và được công ty L xác nhận tại văn bản số 290CV/VIC-XL13 ngày 22/11/2013. Nội dung thể hiện như sau: “...Theo hợp đồng đã ký, bên A giao cho bên B thực hiện thi công 70% (bảy mươi phần trăm) khối lượng cọc khoan vữa Ø 1000mm của gói thầu XL12.TP4, để có cơ sở thanh toán khối lượng vượt ngoài khối lượng hợp đồng đã ký, đề nghị quý công ty kết hợp với chúng tôi để lập phụ lục hợp đồng, bổ sung cho hợp đồng đã ký và hoàn thiện hồ sơ thanh toán khối lượng đợt 6, 7 và đợt 8. ” Ông Bùi Duy X là người ký văn bản (ghi TL.Giám đốc) và được đóng dấu công ty L. Vai trò giám đốc điều hành công trình XL12.TP4 của ông X được công ty L xác nhận tại văn bản 114/VIC-HCM/2014 ngày 16/5/2014. Qua xem xét nội dung văn bản này đã thể hiện Phụ lục hợp đồng được lập sau ngày thi công cuối cùng của công ty X1 và sau khi các bên tính toán giá trị thực tế thi công để ghi nhận số liệu trên Phụ lục Hợp đồng làm căn cứ thực hiện các thủ tục quyết toán giữa hai bên. Do đó, giá trị hợp đồng ghi nhận trên Phụ lục là giá trị thực tế, không phải giá trị tạm tính. Phụ lục của Hợp đồng số 32 được chính đại diện pháp luật công ty L và công ty X1 ký tên, đóng dấu.

Mặc dù giá trị tại Bảng tổng hợp khối lượng cọc thanh toán đợt 8 (từ ngày 30/07/2013 – 28/9/2013) và Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành ngày 01/10/2013 là 9.867.000.000 đồng (bao gồm khoản tiền khấu trừ 253.899.500 đồng nhưng giá trị ghi nhận trên Phụ lục Hợp đồng là 9.832.048.500 đồng (bao gồm khoản khấu trừ 253.899.500 đồng) là giảm 34.951.500 đồng so với số liệu nghiệm thu. Tuy nhiên so sánh giá trị pháp lý giữa các tài liệu chứng cứ trên thì bản Phụ lục Hợp đồng được đại diện hợp pháp của các bên ký và có đóng dấu của pháp nhân và như phân tích ở trên, bản phụ lục hợp đồng theo nội dung của Văn bản số 290CV/VIC-XL13 ngày 22/11/2013 thì Phụ lục được lập sau ngày thi công cuối cùng và giá trị thể hiện là giá thực tế, không phải giá tạm tính nên Hội đồng xét xử xác định giá trị thi công của Hợp đồng số 32 theo Phụ lục là 9.832.048.500 đồng (đã bao gồm khoản khấu trừ 253.899.500 đồng) là phù hợp.

Phía công ty L xác định đã thanh toán tổng cộng số tiền cụ thể theo các lần chuyển khoản như sau:

  • Ngày 03/12/2012, ủy nhiệm chi 701.220.000 đồng;
  • Ngày 05/02/2013, lệnh chuyển có 848.250.000 đồng;
  • Ngày 07/3/2013, lệnh chuyển có 350.000.000 đồng;
  • Ngày 18/3/2013, lệnh chuyển có 373.937.500 đồng;
  • Ngày 04/4/2013, giấy báo có 300.000.000 đồng;
  • Ngày 23/4/2013, lệnh chuyển có 705.615.000 đồng;
  • Ngày 24/5/2013, lệnh chuyển có 1.000.000.000 đồng;
  • Ngày 28/6/2013, lệnh chuyển có 548.568.125 đồng;
  • Ngày 30/8/2013, lệnh chuyển có 250.000.000 đồng;
  • Ngày 24/9/2013, lệnh chuyển có 200.000.000 đồng;
  • Ngày 29/10/2013, ủy nhiệm chi 300.000.000 đồng;
  • Ngày 20/12/2013, lệnh chuyển có 500.000.000 đồng;
  • Ngày 14/01/2014, lệnh chuyển có 568.735.750 đồng;
  • Ngày 12/3/2014, lệnh chuyển có 100.000.000 đồng;
  • Ngày 03/4/2014, lệnh chuyển có 100.000.000 đồng;
  • Ngày 16/4/2014, lệnh chuyển có 100.000.000 đồng;
  • Ngày 19/6/2014, lệnh chuyển có 300.000.000 đồng;
  • Ngày 03/6/2014, lệnh chuyển có 300.000.000 đồng;
  • Ngày 01/8/2014, lệnh chuyển có 48.151.411 đồng;
  • Ngày 31/7/2014, lệnh chuyển có 351.848.589 đồng;
  • Ngày 13/02/2015, giấy báo có 100.000.000 đồng;
  • Ngày 12/02/2015, lệnh chuyển có 200.000.000 đồng;
  • Ngày 19/5/2015, giấy báo có 400.000.000 đồng (note);
  • Ngày 05/02/2016, giấy báo có 100.000.000 đồng.

Tổng cộng Công ty L đã thanh toán 8.746.326.375 đồng.

Tuy nhiên, công ty X1 chỉ xác nhận công ty L đã thanh toán số tiền 8.546.326.375 đồng. Hai khoản chuyển ngày 13/02/2015 và 05/02/2016 mỗi ngày 100.000.000 đồng là khoản thanh toán từ công ty CP X2 586 cho công ty X1. Ông T xác nhận khoản thanh toán này từ công ty E. Nhưng do công ty E nợ công ty L nên giám đốc hai công ty đã tự thỏa thuận miệng việc cấn trừ tiền nợ bằng cách công ty E thay vì chuyển khoản 200.000.000 đồng cho công ty L thì chuyển thẳng cho công ty X1. Ông T cũng xác định thỏa thuận này các bên chỉ trao đổi miệng, không lập thành văn bản và cũng không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh nên tùy Hội đồng xét xử xem xét. Phía công ty X1 thì cho rằng 2 khoản thanh toán này phát sinh từ quan hệ thi công giữa công ty X1 và công ty E, không liên quan đến hợp đồng số 32 giữa công ty X1 và công ty L. Tài liệu này có trong hồ sơ do sơ suất của kế toán công ty X1 đã cung cấp nhầm vào tài liệu của vụ án này. Qua xem xét các giấy báo có ngày 13/02/2015 và 05/02/2016 nhận thấy nội dung chuyển tiền thể hiện đúng như lời trình bày của công ty X1. Công ty L cũng không cung cấp được tài liệu nào chứng minh mình đã chuyển số tiền này cho công ty X1. Vì vậy, có cơ sở để xác định công ty L đã thanh toán cho công ty X1 số tiền 8.546.326.375 đồng. Số tiền chuyển ngày 13/02/2015 và 05/02/2016 nếu công ty L, công ty E có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ việc khác.

Về số tiền khấu trừ gồm:

  • Thí nghiệm khoan lõi cọc là 51.480.000 đồng;
  • Tiền điện 108.217.500 đồng;
  • T2 dầu 59.202.000 đồng;
  • T2 thuê xe cuốc phục vụ 35.000.000 đồng;

Tổng cộng 253.899.500 đồng. Công ty L và công ty X1 đều xác nhận số tiền khấu trừ này. Tuy nhiên, công ty L cho rằng tổng số tiền thanh toán của công ty L đã được công ty X1 xác nhận tại các bản tự khai ngày 23/3/2017 và 12/10/2017 là 8.800.225.875 đồng. Ông T đại diện theo ủy quyền của công ty L cho rằng do công ty X1 thừa nhận công ty L đã thanh toán số tiền 8.800.225.875 đồng và thừa nhận số tiền khấu trừ 253.899.500 đồng nên công ty L không cần phải chứng minh mà đương nhiên xác định công ty L đã thanh toán cho công ty X1 là 9.054.125.375 đồng. Các tài liệu là chứng từ chuyển khoản ở trên cho thấy số tiền thực tế công ty L chuyển khoản thanh toán cho công ty X1 là 8.546.326.375 đồng + khoản khấu trừ 253.899.500 đồng = 8.800.225.875 đồng. Như vậy, việc công ty X1 xác nhận công ty L đã thanh toán 8.800.225.875 đồng là bao gồm cả khoản tiền khấu trừ 253.899.500 đồng và số tiền thực tế công ty L chuyển khoản. Lời trình bày này của công ty X1 là phù hợp với tài liệu chứng cứ và xác nhận của các bên như đã phân tích ở trên. Do đó, chỉ có căn cứ để xác định số tiền đã thanh toán của công ty L cho công ty X1 là 8.800.225.875 đồng (bao gồm tiền khấu trừ 253.899.500 đồng). Không có căn cứ xác định số tiền thanh toán của công ty X1 là 9.054.125.375 đồng theo lời trình bày của bị đơn.

Như vậy, số tiền công ty L chưa thanh toán cho công ty X1 theo giá trị thi công của Hợp đồng số 32 và Phụ lục là 9.832.048.500 đồng - 8.800.225.875 đồng = 1.031.822.625 đồng.

Hợp đồng số 32 các bên thỏa thuận về phương thức và điều kiện thanh toán tại Điều 4 như sau: Tạm ứng 10% giá trị hợp đồng, đợt tiếp theo thanh toán 85% giá trị thực hiện theo hồ sơ nghiệm thu trong vòng 7 ngày kể từ ngày bên A (công ty L) nhận được tiền thanh toán của Chủ đầu tư, đợt quyết toán, bên A thanh toán 95% tổng giá trị quyết toán sau khi bên B hoàn tất thủ tục nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng. 5% giá trị còn lại là tiền bảo hành sẽ được thanh toán ngay sau khi bên B (công ty X1) cung cấp cho bên A thư bảo lãnh bảo hành công trình. Thời hạn bảo hành là 12 tháng kể từ ngày kê biên bản nghiệm thu. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét: Căn cứ Văn bản số 525/DDCN ngày 06/7/2020 của Ban Q1 công trình dân dụng và công nghiệp (Ban DDCN) thì: Hạng mục bờ kè (bao gồm thi công cọc xi măng đất) của gói thầu XL12.TP4 đã được nghiệm thu vào ngày 01/10/2018. Ban DDCN đã hoàn thành công tác thanh toán hạng mục cọc xi măng đất cho nhà thầu VIC vào cuối năm 2013 và hoàn thành giá trị hợp đồng gói thầu XL12.TP4 vào tháng 7/2015. Điều này được công ty L và công ty X1 xác nhận tại phiên tòa. Như vậy, tính cả mốc thời gian chủ đầu tư thanh toán cho công ty L và thời hạn bảo hành 12 tháng cũng đã hết. Ông T đại diện bị đơn cho rằng hiện công ty L vẫn phải thực hiện việc bảo hành cho công trình, phía công ty X1 sau khi thi công không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ bảo hành nào. Nhưng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu nào về việc buộc nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành hay hoàn lại giá trị bảo hành mà công ty L đã thực hiện thay cho công ty X1. Yêu cầu của công ty X1 buộc công ty L thanh toán số tiền còn lại 1.031.822.625 đồng là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận của Hợp đồng về điều kiện thanh toán.

* Xét yêu cầu thanh toán lãi của công ty X1:

- Xét thời gian tính lãi:

Mặc dù các bên thỏa thuận điều kiện thanh toán cuối cùng tại Điều 4 Hợp đồng số 32 là sau khi bên B hoàn tất thủ tục nghiệm thu và ngay sau khi bên A cung cấp thư bảo lãnh bảo hành công trình với thời hạn bảo hành là 12 tháng nhưng phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh thời điểm bàn giao hồ sơ nghiệm thu cho bị đơn. Bị đơn cho rằng chưa nhận được bộ hồ sơ nghiệm thu của công ty X1 là không phù hợp với thực tế. Việc không xác định được thời điểm các bên giao nhận hồ sơ không đồng nghĩa với việc công ty L không nhận được hồ sơ nghiệm thu. Bởi lẽ toàn bộ công trình đã được chủ đầu tư nghiệm thu và hoàn thành việc thanh toán cho công ty L. Nếu không có hồ sơ nghiệm thu thành phần của công ty X1 thì công ty L không thể thực hiện nghiệm thu với chủ đầu tư và cũng không có cơ sở để chủ đầu tư thanh toán cho công ty L. Thực tế, tại Văn bản số 525 ngày 06/7/2020 của Ban quản lý dự án thì toàn bộ gói thầu đã được nghiệm thu và ngày 01/10/2018, Ban DDCN đã hoàn thành công tác thanh toán cho VIC vào cuối năm 2013 và hoàn thành giá trị hợp đồng gói thầu vào tháng 7/2015. Như vậy, do không xác định được thời điểm bàn giao hồ sơ nghiệm thu giữa công ty L và công ty X1 nên Hội đồng xét xử xác định thời hạn cuối của nghiệm thu toàn bộ công trình là ngày 01/10/2018 và thời hạn tối đa của bảo hành nếu tính từ thời điểm 01/10/2018 là 12 tháng (đến ngày 01/10/2019) để làm mốc thời gian tính nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thanh toán của công ty L. Do đó, chỉ có cơ sở để chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn từ thời điểm ngày 01/10/2018 (đối với số tiền 95% giá trị quyết toán còn lại là 1.031.822.625) và từ thời điểm 01/10/2019 đối với 5% của số tiền 1.031.822.625 đồng.

- Xét tính lãi suất:

Các bên đã thỏa thuận tại khoản 7.15 Điều 7 Hợp đồng số 32 về lãi suất và phạt vi phạm như sau: “Nếu bên A thanh toán chậm cho bên B theo quy định tại Điều 4 nói trên thì bên A phải chịu số tiền phạt do chậm thanh toán theo lãi suất tiền gửi của Ngân hàng cho số tiền chậm thanh toán cho mỗi ngày chậm trễ nhưng thời gian chậm thanh toán không quá 14 ngày. Tổng mức phạt không quá 12% giá trị Hợp đồng bị vi phạm”.

Căn cứ Điều 301 Luật Thương mại thì các bên được thỏa thuận mức phạt vi phạm nhưng không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Các bên thỏa thuận tại Hợp đồng số 32 mức phạt không quá 12% giá trị Hợp đồng bị vi phạm là vượt quá quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt vi phạm mà chỉ yêu cầu thanh toán tiền lãi suất do chậm thanh toán. Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại, lãi chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Căn cứ Thông báo số 7572/HCM-TH ngày 10/7/2024 của Ngân hàng TMCP N lãi suất nợ quá hạn là 15%/năm. Căn cứ thông báo số 3017/CNTPHCM-TH ngày 14/6/2024 của Ngân hàng TMCP S lãi suất nợ quá hạn là 18,75%/năm. Căn cứ Thông báo số 1261/NNoTTSG-PC ngày 19/6/2024 của Ngân hàng N1 lãi suất nợ quá hạn là 11,25%/năm. Như vậy, lãi suất trung bình là (15 + 18,75 + 11,25)/3 = 15%/năm. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán lãi suất 14%/ năm là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất này.

- Số tiền lãi được tính như sau:

(1.031.822.625 x 95%) x 14%/12 x 70 tháng (từ 01/10/2018 đến 01/8/2024)
= 800.522.000 đồng.

(1.031.822.625 x 5%) x 14%/12 x 58 tháng (từ 01/10/2019 đến 01/8/2024) =
34.910.000 đồng.

Tổng cộng số tiền lãi được chấp nhận là:

800.522.000 + 34.910.000 = 835.432.000 đồng.

Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn xuất trình biên bản bàn giao hồ sơ thanh toán đợt 7, 8 ngày 22/9/2016, nhưng ngày 01/10/2018 chủ đầu tư đã thanh toán toàn bộ giá trị gói thầu cho công ty L. Do vậy, cấp sơ thẩm đã xác định thời điểm hoàn thành quyết toán và tính lãi suất là đúng quy định pháp luật. Cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3] Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn công ty TNHH L.
  2. Giữ nguyên quyết định Bản án số 163/2024/KDTM-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Án phí phúc thẩm: Bị đơn phải chịu 2.000.000 đồng án phí phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại lai thu số 0005700 ngày 09/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 20/02/2025./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Cục THADS TP HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HC, VP, 216TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/KDTM-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công

  • Số bản án: 09/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger