|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
|
Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày: 19/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thuỷ
Ông Nguyễn Kim Thành
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: HỒ VĂN T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 12/9/1989 tại Đà Nẵng; Nơi thường trú: Tổ A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện tại: Lô H Hồ H, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đ, sinh năm: 1963 và bà Hồ Thị M, sinh năm: 1966; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2013 bị Toà án nhân dân quận Sơn Trà xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
- Người bị hại:
- + Ông Huỳnh Văn K, sinh năm: 1994, địa chỉ: Số C T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- + Ông Trần Văn V, sinh năm: 1978, địa chỉ: Số A N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm: 1981, địa chỉ: Số B T, Phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
- + Bà Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm: 1995, địa chỉ: Số H D, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Nguyễn Thị C - Chủ Hộ kinh doanh N, địa chỉ: Số A K, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- + Ông Đàm Đức P, sinh năm: 1976, địa chỉ: Số A K, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- + Ông Trần Công H2 - Chủ Hộ kinh doanh Trần Công H2, địa chỉ: K Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm: 1987, địa chỉ: C N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- + Bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm: 1985, địa chỉ: Lô H Hồ H, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền nên Hồ Văn T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, từ ngày 16/02/2024 đến ngày 25/9/2024 Hồ Văn T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận S, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/02/2024, khi đang uống cà phê tại quán vỉa hè chợ bến cá T, T bắt xe ôm đi đến sau lưng trường Trung học cơ sở N, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, T đi đến trước căn nhà địa chỉ số C T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng, thấy bên cạnh có đường luồng thông ra phía sau nhà. T đi vào đường luồng đến đường thoát hiểm sau nhà, T để ý cửa sau nhà có đóng lại, cửa này có phần trên là kính, có phần dưới là 01 tấm kim loại mỏng, bị hở một khoảng trống nhỏ khỏi bản lề cửa. T dùng tay tỳ vào lỗ hổng, đè vào tấm kim loại này, để mở rộng lỗ hổng đủ đưa tay vào, T đưa tay qua lỗ hổng mở chốt cửa để đi vào nhà lục tài sản. T đi vào phòng ngủ tầng 1 thấy 01 túi xách da màu đen của anh K treo trên tủ quần áo. T lấy túi xách này, rồi đi ra khỏi nhà theo đường cũ được khoảng 20 mét, T mở túi xách kiểm tra thì thấy bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và nhiều phong bao lì xì, bên trong chứa các tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 20.000 đồng và 10.000 đồng, T lấy hết tiền đếm được 2.800.000 đồng cất vào túi, rồi vứt túi xách trên đường đi về nhà, không rõ nơi vứt. Số tiền có được, T tiêu xài cá nhân hết.
Đối với chiếc túi xách da màu đen anh K khai mua đã lâu, không rõ nhãn mác, đã rách không còn giá trị sử dụng, anh K không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Tổng số tiền Hồ Văn T đã trộm cắp của anh Huỳnh Văn K là 2.800.000 đồng.
Tang vật tạm giữ: Không
Vụ thứ 2: Khoảng 02 giờ ngày 14/9/2024, Hồ Văn T điều khiển xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu đen, BKS: 43M1-8254 đi đến đường L để xe trên vỉa hè rồi đi bộ rảo quanh các tuyến đường tìm kiếm nhà dân có sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Đến nhà số A đường N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng của anh Trần Văn V, T đi vào đường luồng phía sau thấy cửa sau nhà có khóa chốt ngang nhưng giữa cửa và tường vẫn hở ra một khoảng nhỏ, nên T luồn tay phải vào kéo mở chốt cửa, rồi đi vào trong nhà để lục tìm tài sản. T đi vào giữa lối phòng khách với phòng bếp, lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A22, màu đen, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nubia Neo 2, màu bạc và số tiền 300.000 đồng để trên bàn máy may, T tiếp tục lục ví da trong túi quần ở móc treo chỗ bàn ăn lấy 2.700.000 đồng bỏ ví da lại rồi đi ra khỏi nhà theo đường cũ lấy xe rồi đi về phòng trọ. Đến khoảng 11 giờ ngày 15/9/2024, T đem chiếc điện thoại Samsung A22 lấy trộm được bán cho anh Trần Công H2 chủ cửa hàng Trần Hải M1, địa chỉ số A Ông Í, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng với giá 800.000 đồng. Số tiền có được, T đã tiêu xài hết. Còn chiếc điện thoại loại Nubia, T chưa kịp tiêu thụ, khi đi về làm rớt ở đâu không rõ.
Tang vật tạm giữ:
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A22, màu đen, bộ nhớ 128 Gb, số Serial: R58R81MA18P, số IMEI: 35847577296164, đã qua sử dụng thu giữ từ anh Trần Công H2.
Theo kết luận định giá tài sản số 52 ngày 24/10/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận S thì;
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung A22 trị giá 1.750.000 đồng;
- - 01 điện thoại di động hiệu Nubia Neo 2 trị giá 4.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Hồ Văn T đã trộm cắp của anh Trần Văn V trị giá 8.750.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 04 giờ ngày 18/9/2024, T điều khiển xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu, BKS: 43M1-8254, đi đến chợ M3, để xe tại một hẻm gần đó rồi đi bộ vào đường thoát hiểm phía sau căn nhà số B T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng của chị Nguyễn Thị Xuân H. Thấy cửa sổ sau nhà không khóa, để hờ cửa, T mở cửa sổ trèo vào trong nhà lên phòng ngủ tầng 2, phát hiện 01 hộp giấy bên trong có 02 nhẫn vàng tây 18K, 01 bộ trang sức bạch kim gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền, 01 đôi bông tai, 01 đồng hồ đeo tay màu vàng, hiệu Cluse CL18112, 01 sợi dây chuyền màu bạc trên bàn trang điểm, T cầm chiếc hộp giấy rồi đi tới tủ đồ quần áo, mở cửa tủ lấy trộm thêm 01 con heo đất. T cầm toàn bộ tài sản trèo ra ngoài theo lối cũ. Đi được một đoạn, T đập con heo đất, lấy được số tiền 500.000 đồng bên trong cất vào túi, quay lại chỗ để xe rồi điều khiển xe đi về nhà. Trên đường đi, T làm rơi mất chiếc đồng hồ. Đến sáng, T đem 02 chiếc nhẫn kim loại vàng bán tại tiệm vàng ở chợ C2 (không nhớ địa điểm cụ thể) được 1.200.000 đồng, 01 bộ trang sức bạch kim gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền, 01 đôi bông tai, T liên hệ một người không rõ lai lịch trên mạng Internet bán được 8.400.000 đồng, còn sợi dây chuyền kim loại màu bạc, T không bán được nên vứt bỏ. Số tiền bán tài sản và tiền trộm được, T tiêu xài hết.
Tang vật tạm giữ: Không
Theo Kết luận định giá tài sản số 61 ngày 12/11/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận S thì:
- - 01 chiếc nhẫn vàng tây 18K, trọng lượng 03 phân đã qua sử dụng trị giá 1.700.000 đồng;
- - 01 chiếc nhẫn vàng tây 18K, trọng lượng 03 phân đã qua sử dụng trị giá 1.700.000 đồng.
Đối với 01 bộ trang sức bạch kim, màu ánh kim gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền, 01 đôi bông tai và 01 đồng hồ đeo tay màu vàng, hiệu Cluse CL18112, Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận S có Văn bản số 09 ngày 11/11/2024 trả lời không đủ cơ sở để thực hiện thẩm định giá tài sản nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S tiếp tục có yêu cầu định giá tài sản số 2476 ngày 19/11/2024 gửi Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng để định giá tài sản trên theo quy định nhưng Hội đồng định giá số 200 ngày 04/12/2024 kết luận không đầy đủ các thông tin liên quan đến tài sản định giá, nên không có cơ sở để định giá tài sản.
Theo trình báo của chị Nguyễn Thị Xuân H thì 01 bộ trang sức bạch kim gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền, 01 đôi bông tai chị mua vào cuối năm 2020 với giá 22.500.000 đồng, trong đó dây chuyền mặt trị giá 17.000.000 đồng, 01 đôi bông tai trị giá 5.500.000 đồng tại tiệm V1 số C đường Ô, thành phố Đà Nẵng; 01 đồng hồ hiệu CL11812, màu vàng chị mua vào năm 2021 với giá 5.000.000 đồng nhưng không nhớ mua của ai, ở đâu, do lâu quá nên giấy tờ đã thất lạc; con heo đất chị H khai mua với giá rất thấp nên không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường.
Tiến hành làm việc với tiệm V1 cho biết tiệm vàng có hệ thống nhập máy lưu hàng thông tin giao dịch từ năm 2023, trước đó tiệm vàng không lưu trữ hóa đơn mua bán gì với khách hàng. Qua kiểm tra thông tin trên hệ thống không thấy lưu trữ khách hàng tên Nguyễn Thị Xuân H.
Tiến hành khảo sát giá bộ trang sức bạch kim, màu ánh kim gồm: 01 sợi dây chuyền, 01 đôi bông tai, 01 mặt dây chuyền và đồng hồ đeo tay màu vàng, hiệu Cluse CL18112 trên thị trường cũng không thể xác định được giá trị của bộ T2 và đồng hồ trên.
Hồ Văn T đồng ý với giá tiền mà bị hại khai đã mua như trên và hứa khi nào chấp hành xong án phạt tù về đi làm, sẽ tích lũy trả cho bị hại.
Đối với sợi dây chuyền màu bạc và con heo đất trị giá ít, chị H không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Như vậy có đủ căn cứ xác định Hồ Văn T đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Xuân H gồm 500.000 đồng tiền mặt, 02 chiếc nhẫn vàng tây 18K trị giá 3.400.000 đồng, 01 bộ trang sức bạch kim trị giá 22.500.000 đồng và 01 đồng hồ hiệu CL11812, màu vàng trị giá 5.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản và tiền mặt mà T đã chiếm đoạt trị giá 31.400.000 đồng.
Vụ thứ 4: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/9/2024, Hồ Văn T điều khiển xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu xám, BKS: 43M1-8254, đi đến ngã ba đường C - N, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng thì dừng lại, để xe trên lề đường rồi đi bộ rảo quanh các tuyến đường tìm kiếm nhà dân có sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Đến trước nhà số H D, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng của chị Nguyễn Thị Bích H1, T thấy trong nhà tắt đèn, khóa cửa chính nên T đi vòng ra đường luồng phía sau nhà kiểm tra thấy cửa sau nhà có khóa chốt ngang nhưng giữa cửa và tường vẫn hở ra một khoảng nhỏ, nên T luồng tay phải vào kéo mở chốt cửa, rồi đi vào trong nhà để lục tìm tài sản. Lên tầng 2, T lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Xiaomi Redmi Pad, màu đen để phía trên đầu kệ tủ quần áo cầm đi ra phòng trước ban công tầng 2 thì lấy thêm 01 loa Bluetooth, màu xanh, để dưới nền nhà. Xuống cầu thang thấy chiếc ba lô T lấy luôn bỏ máy tính bảng, loa Bluetooth vào đây rồi đi ra ngoài theo lối cũ. T đi đến nơi để xe, rồi điều khiển xe đi về nhà. Trên đường đi, T vứt bỏ chiếc ba lô. Đến 09 giờ cùng ngày, T mang theo cái chiếc máy tính bảng hiệu Redmi Pad này, đem đến tiệm cầm đồ Nam C1 địa chỉ số A K, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, do bà Nguyễn Thị C làm chủ cầm với giá 1.500.000 đồng, còn chiếc loa thì T giữ lại sử dụng và bị cơ quan Công an đến làm việc, thu giữ.
Tang vật tạm giữ:
- - 01 máy tính bảng hiệu X, màu xám đen, bộ nhớ 128 Gb, số S: WW6DPZGQLNUL7UC, mẫu 22081283G, đã qua sử dụng thu giữ từ anh Đàm Đức P;
- - 01 chiếc loa bluetooth hiệu LG, màu xanh, model: PN1IPX5, FCC ID: BEJPN1, đã qua sử dụng thu giữ từ Hồ Văn T.
Theo Kết luận định giá tài sản số 52 ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận S thì:
- - 01 máy tính bảng hiệu Redmi Pad trị giá 2.850.000 đồng;
- - 01 loại bluetooth hiệu LG trị giá 300.000 đồng;
Đối với chiếc ba lô đã cũ, không còn giá trị, chị H1 không yêu cầu định giá, không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Tổng giá trị tài sản Hồ Văn T đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Bích H1 trị giá 3.150.000 đồng.
Lời khai của những người tham gia tố tụng phù hợp với lời khai của bị cáo.
Tại phiên toà, những người bị hại Huỳnh Văn K và Trần Văn V đã nhận tiền bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bị hại Nguyễn Thị Xuân H đã nhận tiền bồi thường một phần tài sản bị chiếm đoạt, thống nhất thoả thuận bị cáo tiếp tục bồi thường cho chị Nguyễn Thị Xuân H số tiền 20.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên kết luận truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam ngày 26/9/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị:
Ghi nhận việc thoả thuận bồi thường giữa bị cáo và người bị hại về việc bị cáo Hồ Văn T bồi thường cho chị Nguyễn Thị Xuân H số tiền 20.000.000 đồng;
Buộc bị cáo bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C - Chủ hộ Kinh doanh Nam Cường số tiền 1.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD màu vàng lưu dữ liệu camera hình ảnh Hồ Văn T trộm cắp tài sản thu giữ của chị Nguyễn Thị Xuân H.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Qua xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Trong các ngày 16/02/2024, 14/9/2024, 18/9/2024 và 25/9/2024, Hồ Văn T có hành vi lén lút trộm cắp các tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu S A22 trị giá 1.750.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nubia Neo 2 trị giá 4.000.000 đồng, 02 nhẫn kim vàng tây 18K trị giá 3.400.000 đồng, 01 bộ trang sức bạch kim trị giá 22.500.000 đồng, 01 đồng hồ hiệu Cluse trị giá 5.000.000 đồng, 01 máy tính bảng hiệu Xiaomi Redmi Pad trị giá 2.850.000 đồng, 01 chiếc loa bluetooth hiệu LG trị giá 300.000 đồng, 6.300.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản mà Hồ Văn T đã chiếm đoạt được là 46.100.000 đồng.
Hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác có giá trị 46.100.000 đồng của Hồ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 08/CT-VKSST ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Hồ Văn T về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của những người bị hại nhiều lần trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần phải quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc mới tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, vào năm 2013 bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không có căn cứ xác định được thu nhập, tài sản của bị cáo nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà người bị hại chị Nguyễn Thị Xuân H và bị cáo thoả thuận thống nhất bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Xuân H số tiền 20.000.000 đồng; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C - Chủ hộ kinh doanh Nam Cường yêu cầu bị cáo trả lại 1.500.000 đồng đã cầm cố máy tính bảng hiệu Xiaomi Redmi P1. Hội đồng xét xử xét thấy các yêu cầu bồi thường này là có căn cứ theo quy định tại Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.
Những người bị hại anh Huỳnh Văn K và anh Trần Văn V đã nhận được số tiền bồi thường, người bị hại chị Nguyễn Thị Bích H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A22, màu đen (bộ nhớ 128Gb, số serial: R58R81MA18P, số IMEI: 35847577296164), 01 máy tính bảng hiệu X, màu xám-đen bộ nhớ 128Gb, số Serial: WW6DPZGQLNUL7UC, mẫu 22081283G và 01 chiếc loa Bluetooth hiệu LG, màu xanh model: PN1IPX5, FCC ID: BEJPN1 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Văn V và chị Nguyễn Thị Bích H1 là đúng pháp luật.
Đối với xe mô tô hiệu SYM Attila, màu nâu xám, BKS: 43M1-8254, số khung: 034655, số máy: 034655 mà Hồ Văn T sử dụng làm phương tiện đi phạm tội do bà Huỳnh Thị M2 đứng tên đăng ký vào năm 2010 nhưng bà M2 đã chết vào năm 2023. Theo anh Nguyễn Văn H3 là con duy nhất của bà M2 trình bày việc bà M2 mua xe này rồi bán lại cho ai anh H3 không biết, không liên quan và không yêu cầu gì. Còn chị Nguyễn Thị Minh T1 trình bày năm 2021 chị có mua chiếc xe trên của bà Huỳnh Thị M2 có viết giấy mua bán xe, nay đã thất lạc mất giấy, mục đích để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Bị cáo T và chị sống chung như vợ chồng nên chị đưa xe cho T làm phương tiện đi lại, chị T1 không biết T sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S đã trả lại xe cho chị T1 là phù hợp.
Đối với 01 đĩa CD màu vàng lưu dữ liệu camera hình ảnh Hồ Văn T trộm cắp vào đêm ngày 18/9/2024 tại nhà số B đường T, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng thu giữ của chị Nguyễn Thị Xuân H, là chứng cứ vụ án nên cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[9]. Về vấn đề khác:
Đối với anh Đàm Đức P nhân viên dịch vụ cầm đồ N có hành vi nhận cầm cố máy tính bảng hiệu Xiaomi Redmi P1 và anh Trần Công H2 có hành vi mua điện thoại di động Samsung A22 do Hồ Văn T mang đến nhưng không biết tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S không xử lý đối với anh P, anh H2 là phù hợp.
Đối với người ở tiệm C2 đã mua 02 nhẫn vàng tây 18K và người đã mua bộ trang sức bạch kim của T hiện không xác định được địa chỉ, nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
[10]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bị cáo có trách nhiệm bồi thường 1.075.000 đồng.
[11]. Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về áp dụng điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giam ngày 26/9/2024
2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận việc thoả thuận bồi thường thiệt hại như sau: bị cáo Hồ Văn T bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị Xuân H số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng);
Buộc bị cáo Hồ Văn T bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C - Chủ hộ Kinh Doanh Nam C1 số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Tổng cộng số tiền bị cáo phải bồi thường là 21.500.000đ (Hai mươi mốt triệu, năm trăm nghìn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên có nghĩa vụ chậm bồi thường thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD màu vàng lưu dữ liệu camera hình ảnh Hồ Văn T trộm cắp tài sản vào ngày 18/9/2024.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hồ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm 1.075.000 đồng (Một triệu, không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn T phạm tội trộm cắp tài sản
