|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 19-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ánh Gương.
Ông Nguyễn Hữu Phúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1979 tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1944 (chết) và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1944; có chồng (đã ly hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1999 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở hiện tại: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Lê Quang H1, sinh ngày 18/01/2006 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng: Huỳnh Văn Tú E, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 10 phút ngày 05/12/2024, Phạm Thị Mỹ D, ngụ ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp điều khiển xe mô tô biển số 66BA-141.63 đến tiệm V thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để mua vải. Khi đến nơi, D thấy điện thoại di động của bà Nguyễn Thị Thúy H (chủ tiệm vải) để trên bàn nhựa trước cửa tiệm vải không người trông coi (bà H đang nấu cơm phía sau nhà), D đi lại, dùng tay phải lấy điện thoại cầm trên tay đi vào tiệm lựa vải nhưng không mua, sau đó liền đi ngược lại ra xe, để điện thoại trộm được vào túi áo khoác, điều khiển xe đến cửa hàng Đ1 thuộc ấp C, xã T, huyện T nhờ anh Huỳnh Văn Tú E (chủ cửa hàng) tháo sim trong điện thoại vừa trộm được, tháo xong D cất điện thoại và sim vào túi áo khoác và chạy về nhà. Đến 10 giờ 15 phút cùng ngày, bà H phát hiện mất điện thoại nên trình báo Công an thị trấn T. Qua xác minh, Công an mời D làm việc, tại đây D thừa nhận hành vi trộm điện thoại của bà H như nội dung nêu trên đồng thời giao nộp lại điện thoại di động đã lấy trộm.
Vật chứng thu giữ đã xử lý gồm:
Đã thu giữ và trao trả 01 sim điện thoại di động, màu trắng, có chữ 4G Viettel màu đỏ, số thuê bao 0334829615; 01 ốp lưng, bằng nhựa, màu trong suốt, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI 358547325897922, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Thúy H xong (bà H trình bày ốp lưng điện thoại mua đã lâu với giá 20.000 đồng, hiện nay đã cũ không còn giá trị, sim điện thoại sau khi bị trộm đã được tổng đài làm lại miễn phí nên bà H không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thường.
Đã thu giữ và trao trả 01 xe mô tô biển số 66BA-141.63, hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu Lê Quang H1 (con ruột D), sinh năm 2006, ĐKTT ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xong (H1 trình bày, do H1 mua phân bón được trúng thưởng xe trên, hằng ngày H1 để xe trên ở nhà, ngày 05/12/2024 D tự ý lấy xe trên đi, H1 không biết, H1 yêu cầu được nhận lại nên việc trả lại xe mô tô trên cho H1 là phù hợp.
Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
01 file dữ liệu video, tên cam1.mp4, dung lượng 1.45MB; 01 file dữ liệu video, tên cam2.mp4, dung lượng 5.15MB.
Kết luận định giá tài sản số 69/KL-ĐGTS, ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Điện thoại đi động Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI 358547325897922, tài sản đã qua sử dụng, giá trị định giá 16.667.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 14/CT-VKSTN ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Phạm Thị Mỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có. Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông ngoại tên Huỳnh Văn Đ tham gia cách mạng được tặng thưởng huy chương. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Thị Mỹ D, phạm tội “Trộm cắp tài sản” mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo sống bằng nghề làm ruộng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H đã nhận lại tài sản 01 điện thoại, 01 sim điện thoại, 01 ốp lưng điện thoại, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại, 01 sim điện thoại, 01 ốp lưng điện thoại, cơ quan điều tra đã trao trả lại cho bị hại H và 01 xe mô tô biển số 66BA-141.63 trả cho H1 nhận lại xong nên không xem xét.
Riêng 01 file dữ liệu video, tên cam1.mp4, dung lượng 1.45MB; 01 file dữ liệu video, tên cam2.mp4, dung lượng 5.15MB là chứng cứ phạm tội của bị cáo nên đề nghị Tòa án tịch thu lưu hồ sơ.
Bị cáo Phạm Thị Mỹ D không khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thống nhất kết quả định giá tài sản và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình đã ăn năn, hối hận, nhất thời phạm tội nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ các đương sự H, H1 và Tú E đến tham gia phiên toà, nhưng H, H1 vắng mặt có lý do; riêng Tú E vắng mặt không lý do. Quá trình điều tra, tất cả đương sự vắng mặt nêu trên đã có lời khai được lưu vào trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của bị hại, người liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người liên quan và người làm chứng theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh cùng ngày 06/12/2024 của Công an huyện T; Kết luận định giá tài sản số: 69/KL-ĐGTS, ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 05/12/2024, bị cáo Phạm Thị Mỹ D điều khiển xe mô tô biển số 66BA-141.63 đến tiệm V thuộc khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI 358547325897922, đã qua sử dụng của bị hại Nguyễn Thị Thúy H (chủ tiệm vải) đang để trên bàn nhựa trước cửa tiệm vải không người trông giữ nên bị cáo lén lút lấy trộm điện thoại bỏ vào túi áo và nhanh chóng rời khỏi hiện trường, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 16.667.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số: 14/CT-VKSTN ngày 22/01/2025 truy tố bị cáo D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trông việc quản lý tài sản để trộm cắp 01 điện thoại di động của bị hại mục đích để sử dụng cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính nuôi con nhỏ và có ông ngoại tên Huỳnh Văn Đ tham gia cách mạng được tặng thưởng huy chương “Hạng Ba” ngày 19/5/1990. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sinh sống bằng nghề ruộng, nuôi con nhỏ, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đã thu hồi tài sản trả lại bị hại H nhận xong (theo Biên bản trả lại tài sản ngày 28/12/2024), bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe mô tô biển số 66BA-141.63 thu giữ của bị cáo Phạm Thị Mỹ D. Quá trình điều tra, chứng minh thuộc sở hữu của Lê Quang H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho anh H1 nhận lại xong, không có yêu cầu nào khác nên không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số IMEI 358547325897922; 01 sim điện thoại di động, màu trắng, có chữ 4G Viettel màu đỏ, số thuê bao 0334829615; 01 ốp lưng, bằng nhựa, màu trong suốt, đã qua sử dụng. Quá trình điều, Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại H nhận lại xong, không có yêu cầu nào khác nên không xem xét.
Đối với 01 file dữ liệu video, tên cam1.mp4, dung lượng 1.45MB; 01 file dữ liệu video, tên cam2.mp4, dung lượng 5.15MB là chứng cứ chứng minh bị cáo hành vi phạm tội nên lưu vào hồ sơ vụ án là phù hợp theo quy định Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
[8] Đối với Huỳnh Văn Tú E (chủ cửa hàng điện thoại di động T). Quá trình điều tra, chứng minh vào ngày 05/12/2024, bị cáo D có đến cửa hàng nhờ Tú E tháo sim trong điện thoại iphone 14 Promax ra để gắn vào điện thoại khác, khi tháo xong Tú Em trả lại sim và điện thoại cho bị cáo, Tú E không hỏi và bị cáo cũng không nói về nguồn gốc điện thoại do trộm mà có nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm đối với Tú E.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Mỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Mỹ D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) file dữ liệu video, tên cam1.mp4, dung lượng 1.45MB; 01 (một) file dữ liệu video, tên cam2.mp4, dung lượng 5.15MB (Vật chứng đang lưu trong hồ sơ vụ án).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thị Mỹ D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Huỳnh Kim Oanh |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
