TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 18-02-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu và ông Lê Khải .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải, là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa 18/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Mùa A C, sinh ngày: 01/01/2004; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Nơi thường trú: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Tin Lành; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Mùa A C1, sinh năm 1981, con bà Sồng Thị D, sinh năm 1984. Hiện cha mẹ bị cáo đang sinh sống tại Thôn P, xã Q, huyện K. Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hàng Thị X, sinh năm 2003. Bị cáo có 02 con đều sinh năm 2020. Hiện vợ con bị cáo đang sinh sống tại thôn P, xã Q, huyện K; Tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 9 năm 2024 – Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Mùa A C: Ông Hoàng Ngọc T (Có mặt) và ông Y’ Lam (xin xét xử vắng mặt) - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Đường C, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Xin xét xử vắng mặt.
- Ông Mùa A C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Bà Hàng Thị X, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Hùng C2, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Xin xét xử văng mặt.
- Ông Hà Văn S, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Ông Trịnh Ngọc H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Xin xét xử vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Vàng Công C3; nơi công tác: Công an huyện K; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình đi hái măng thì Mùa A C nhìn thấy đường dây điện 3 pha được chôn ngầm dưới đất tại rẫy nhà anh Nguyễn Văn L ở thôn P, xã Q, huyện K nên nảy sinh ý định đào, cắt lấy trộm về bán lấy tiền tiêu xài. Đến ngày 20/9/2024, Mùa A C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát (BKS) 48D1 – 427.34 mang theo 01 con dao đi đến gần rẫy nhà anh L; C để xe mô tô lại rồi đi bộ đến khu vực chôn dây điện, dùng tay kéo dây điện lên khỏi mặt đất rồi dùng dao chặt đứt 02 đầu được 01 đoạn dây điện nhãn hiệu CADIVI loại 3 pha, 4 lõi đồng (4x16)mm dài khoảng 22,5m. Chư bỏ dây điện vào trong bao tải trắng rồi dùng xe mô tô chở ra khu vực hồ thủy điện xã Q dùng dao tách vỏ dây điện ra lấy lõi đồng, sau đó C mang lõi đồng bán cho một người thu mua phế liệu thì cân được 15kg, bán được số tiền 1.000.000đ rồi lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng.
Đến khoảng 16 giờ ngày 24/9/2024 Mùa A C điều khiển xe mô tô BKS 48D1 – 427.34 mang theo dao, cây đục, cờ lê đến khu vực rẫy nhà anh Nguyễn Văn L ở thôn P, xã Q, huyện K để tiếp tục trộm cắp dây điện. Khi đến nơi, C để xe mô tô lại rồi đi vào vườn rẫy khoảng 200m thì nhìn thấy dây điện, C dùng dao đào đất kéo dây điện lên rồi chặt đứt 02 đầu được 01 đoạn dây điện nhãn hiệu CADIVI loại 3 pha, 4 lõi đồng (4x16)m dài 29,8m; Chư kéo đoạn dây điện ra vườn cà phê cách khoảng 30m rồi dùng dao ngồi tách vỏ dây điện. Lúc này, anh Nguyễn Văn L đang ngồi ở nhà cùng với anh Hà Văn S, Trịnh Ngọc H1, Lê Hùng C2 thì thấy thiết bị báo ngắt điện qua điện thoại di động; nghi ngờ bị mất trộm dây điện nên anh L cùng với anh S, H1, C2 cùng đi đến rẫy thì nhìn từ xa thấy Mùa A C đang bóc tách vỏ dây điện nên tri hô đuổi bắt. Mùa A C thấy bị phát hiện nên bỏ xe mô tô và dụng cụ, dây điện lại chạy thoát; đến ngày 25/9/2024 Mùa A C đến Công an xã Q đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên các tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K kết luận: 29,8m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm trị giá ngày 24/9/2024 là 5.191.000₫.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên các tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K kết luận: 22,5m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm trị giá ngày 20/9/2024 là 3.920.000₫.
Cáo trạng số 03/CT-VKS-ĐS ngày 31/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Krông Nô để xét xử bị cáo Mùa A C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và khẳng định quyết định truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xem xét, đánh giá các chứng cứ buộc tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị Mùa A C về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A C từ 12 đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của Mùa A C đã bồi thường cho Nguyễn Văn L số tiền 1.000.000đ, anh L không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho C.
- Về xử lý vật chứng:
- + Trả lại 29,8m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm cho anh Nguyễn Văn L là chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử lý vật chứng số 771/QĐ-ĐTTH ngày 13/11/2024.
- + Đối với 22,5m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm Mùa A C trộm cắp vào ngày 20/9/2024, C đã bán cho một người thu mua phế liệu không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được.
- + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 48D1 – 427.34 là của Hàng Thị X (SN: 2003, trú tại: Thôn P, xã Q, huyện K – là vợ của Mùa A C) mua lại của Đinh Thị H (SN: 01/01/1975, trú tại: Thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông). Vào ngày 20/9/2024 và 24/9/2024, Hàng Thị X không biết việc Mùa A C lấy xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, nên trả lại cho bà Hàng Thị X.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao dài 45cm, cán gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm; 01 cờ lê cỡ 18; 01 cờ lê cỡ 19; 01 cây đục dài 30cm, cán bằng gỗ dài 12cm và 01 đầu tuýp loại V21cm.
Người bào chữa cho bị cáo Mùa A C trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định truy tố, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không bào chữa gì mà xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của bị cáo gây ra, bị cáo khai nhận như sau:
Tại phiên toà, bị cáo Mùa A C đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào ngày 20/9/2024 và 24/9/2024 tại khu vực rẫy nhà anh Nguyễn Văn L ở thôn P, xã Q, huyện K, Mùa A C đã có hành vi trộm cắp 22,5m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm trị giá ngày 20/9/2024 là 3.920.000đ và 29,8m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm trị giá ngày 24/9/2024 là 5.191.000đ. Tổng tài sản Mùa A C trộm cắp của anh Nguyễn Văn L trị giá 9.111.000đ.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Mùa A C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án:
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác và làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao động, để có tài sản sử dụng phục vụ cho lợi ích cá nhân của bản thân, bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp 22,5m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm trị giá ngày 20/9/2024 là 3.920.000đ và 29,8m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm trị giá ngày 24/9/2024 là 5.191.000đ. Tổng tài sản Mùa A C trộm cắp của anh Nguyễn Văn L trị giá 9.111.000đ.
Do đó, để đảm bảo việc giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây để đảm bảo được mục đích của hình phạt theo pháp luật, đồng thời đây còn là bài học cho những ai có ý định trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo Mùa A C có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng: Từ ngày 20/9/2024 và 24/9/2024 tại khu vực rẫy nhà anh Nguyễn Văn L ở thôn P, xã Q, huyện K, Mùa A C đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[5]. Về vật chứng vụ án:
- - Đối với 29,8m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm thu giữ nêu trên, quá trình điều tra đã xác định được là của anh Nguyễn Văn L nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 771/QĐ-ĐTTH ngày 13/11/2024 trả lại cho anh L là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
- - Đối với 22,5m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm Mùa A C trộm cắp vào ngày 20/9/2024, C đã bán cho một người thu mua phế liệu không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được nên không xem xét để xử lý.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 48D1 – 427.34 là của Hàng Thị X – là vợ của Mùa A C mua lại của Đinh Thị H. Vào ngày 20/9/2024 và 24/9/2024, Hàng Thị X không biết việc Mùa A C lấy xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Hàng Thị X.
- - Đối với các vật chứng còn lại: 01 con dao dài 45cm, cán gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm; 01 cờ lê cỡ 18; 01 cờ lê cỡ 19; 01 cây đục dài 30cm, cán bằng gỗ dài 12cm và 01 đầu tuýp loại V21cm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 1.000.000 đồng, người bị hại không yêu cầu gì thêm. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường giữa bị hại và bị cáo là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[7]. Các tình tiết liên quan đến vụ án:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Mùa A C, qua điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[8]. Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/9/2024.
- Việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại 29,8m dây điện 3 pha 4 lõi đồng loại CADIVI (4x16)mm cho anh Nguyễn Văn L là chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử lý vật chứng số 771/QĐ-ĐTTH ngày 13/11/2024.
- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 48D1 – 427.34 cho bà Hàng Thị X (SN: 2003, trú tại: Thôn P, xã Q, huyện K – là vợ của Mùa A C).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao dài 45cm, cán gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm; 01 cờ lê cỡ 18; 01 cờ lê cỡ 19; 01 cây đục dài 30cm, cán bằng gỗ dài 12cm và 01 đầu tuýp loại V21cm.
- Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mùa A C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Đình Minh |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giam
