Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 17-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Tấn Phát;
  2. Ông Nguyễn Văn Tới.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cẩm Linh, bà Nguyễn Lê Trà G, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị Kim L, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1972 tại tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S đã chết và bà Lê Thị Tuyết M sinh năm 1955; chồng tên là Trần Văn Đ đã ly hôn; con có 02 người, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng chống mại dâm số 54/QĐ- XPVPHC ngày 29-7-2009 xử phạt Lê Thị Kim L 200.000 đồng về hành vi bán dâm, đã nộp phạt.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01-10-2024 chuyển tạm giam ngày 10-10-2024 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài, Lê Thị Kim L nảy sinh ý định bán ma tuý cho người khác. Trong các ngày 30/9/2024 và 01/10/2024, L đã 02 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho người khác, cụ thể:

Lần thứ nhất: Sáng ngày 30/9/2024, Lê Thị Kim L điều khiển xe mô tô biển số 70D1-857.62 đến Bến xe T gặp người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 500.000 đồng ma tuý được 04 đoạn ống hút bên trong chứa ma tuý. Khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 1981, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh sử dụng số thuê bao 0775.721.111 gọi cho Liên qua số thuê bao 0973.289.798 hỏi mua ma tuý, L đồng ý bán, hẹn giao tại khu vực cầu K thuộc xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, L đến nơi hẹn bán cho Đ1 03 đoạn ống hút với giá 400.000 đồng, Đ1 trả 350.000 đồng, còn thiếu lại 50.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 06 giờ sáng ngày 01/10/2024, L điều khiển xe mô tô biển số 70D1-857.62 đến Bến xe T gặp người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 1.000.000 đồng ma tuý được 01 bịch nylon màu đen và nhiều ống hút nhựa để phân lẻ ma tuý. Sau đó, L điều khiển xe đến khu vực M thuộc xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh lấy ma tuý chia nhỏ vào 16 đoạn ống, đồng thời lấy đoạn ống hút chứa ma tuý còn lại chưa bán vào ngày 30/9/2024 cất giấu vào 02 bao tay len để trong túi xách màu đen. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đ1 và Lưu Văn T, sinh năm 1971, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh lần lượt điện thoại cho L hỏi mua ma tuý, hẹn giao tại quán C thuộc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Khoảng 20 phút sau, L đến quán cà phê thấy Đ1 đang ngồi ở chòi nên vào ngồi cùng, Đ1 trả cho L 50.000 đồng tiền mua ma tuý còn thiếu vào ngày 30/9/2024, đồng thời mua 400.000 đồng ma tuý được 02 đoạn ống hút chứa ma tuý rồi đi sang chòi lá khác sử dụng hết. Lúc này, Nguyễn Thanh P, sinh năm 1979, ngụ ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh đến quán cà phê uống nước, thấy L bán ma tuý nên mua 01 đoạn ống hút chứa ma tuý với giá 170.000 đồng đem sang chòi lá khác sử dụng hết. Sau đó, Lưu Văn T đến gặp L mua 200.000 đồng được 01 đoạn ống hút chứa ma tuý, T lấy ma tuý sử dụng hết, chưa trả tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Ngoài ra, Lê Thị Kim L còn khai nhận bán ma tuý cho Lưu Văn T 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng (không nhớ rõ ngày) tại khu vực K thuộc xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Kết luận giám định số 1965/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 11 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng được hàn kín hai đầu; 02 đoạn ống hút nhựa màu hồng sọc trắng được hàn kín hai đầu gửi giám định là chất ma tuý; Loại Heroine (H); Khối lượng 0,8718 gam.

Quá trình điều tra, Lê Thị Kim L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tự nguyện khai báo những lần phạm tội khác.

Đối với người bán ma tuý cho L, do không biết họ tên, địa chỉ chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Tây Ninh tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 152/CT-VKSTPTN ngày 30-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Thị Kim L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa sơ thẩm;

Bị cáo L thừa nhận toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu đúng hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Kim Liên T1 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; 01 túi xách màu đen; 02 bao tay len màu tím, cổ bao tay màu xám, lưng bao tay có thú bông hình đầu mèo; 03 mảnh nylon màu đen; 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng; 01 quẹt gas màu xanh; 01 quẹt gas màu vàng; 02 đoạn ống hút màu xanh sọc trắng không chứa gì; 01 đoạn ống hút màu hồng sọc trắng không chứa gì; 01 bơm kim tiêm không chứa gì;

* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền, vật do bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 điện thoại di động hiệu FORME màu đỏ, số IMEI: 353397060820621, bản phím vật lý; Tiền Việt Nam đồng: 602.000 đồng.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính tiền mua bán ma túy sung vào ngân sách Nhà nước là 968.000 đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Hối hận về hành vi của bị cáo, do không am hiểu pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Có đủ căn cứ xác định bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Do muốn có tiền tiêu xài, mục đích cá nhân, bị cáo Lê Thị Kim L nảy sinh ý định bán ma tuý cho người khác. Ngày 30-9-2024 tại khu vực cầu K thuộc xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh, Lê Thị Kim L có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Xuân Đ1. Ngày 01-10-2024, tại quán C thuộc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, Lê Thị Kim L có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Xuân Đ1, Nguyễn Thanh P và Lưu Văn T; Khi bán ma túy cho Lưu Văn T, T lấy ma tuý sử dụng hết, chưa trả tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Tại Kết luận giám định số 1965/KL-KTHS ngày 09-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 11 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng được hàn kín hai đầu; 02 đoạn ống hút nhựa màu hồng sọc trắng được hàn kín hai đầu gửi giám định là chất ma tuý; Loại Heroine (H) khối lượng 0,8718 gam.

Hành vi của bị cáo Lê Thị Kim L có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh truy tố bị cáo L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện, nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nghiêm cấm việc trồng, mua bán, vận chuyển, sản xuất, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo L có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tự khai ra rõ ràng những lần mua bán trước đó, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 bì thư được niêm phong ghi số vụ 1965 có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T2, trợ lý giám định Nguyễn Chí L1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong gồm có: 01 bịch nylon chứa chất rắn màu trắng (kí hiệu M) là H có khối lượng 0,8033 gam;
  • 01 túi xách màu đen;
  • 02 bao tay len màu tím, cổ bao tay màu xám, lưng bao tay có thú bông hình đầu mèo;
  • 03 mảnh nylon màu đen;
  • 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng;
  • 01 quẹt gas màu xanh;
  • 01 quẹt gas màu vàng;
  • 02 đoạn ống hút màu xanh sọc trắng không chứa gì;
  • 01 đoạn ống hút màu hồng sọc trắng không chứa gì;
  • 01 bơm kim tiêm không chứa gì;

* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền, vật do bị cáo dùng vào việc phạm tội:

  • Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính tiền mua bán ma túy sung vào ngân sách Nhà nước là 968.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động hiệu FORME màu đỏ, số IMEI: 353397060820621, bản phím vật lý;
  • Tiền Việt Nam đồng: 602.000 đồng, gồm: 01 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 100.000 đồng, số sê ri: DO 17822961; 09 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 50.000 đồng, số sê ri: VY 17743063, HV 21970995, XU 21944010, LM 20606171, XO 17749925, IG 22987681, IQ 17265066, KT 16835384, EO 16608079; 01 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 20.000 đồng, số sê ri: KU 22062537; 03 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 10.000 đồng, số sê ri: YS 18098976, SH 20880808, PS 17944170; 01 tờ tiền Việt Nam đồng (cotton) mệnh giá 2.000 đồng, số sê ri: AW 9146301 bên trong bì thư được niêm phong ghi số 1980, có chữ ký của Giám định viên Phạm Thị Minh N và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T;

Đối với chiếc xe mô tô gắn biển số 70D1-857.62, hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, số khung: RLCS5C6H0EY0664739, số máy: 5C64H064752. Xe này do bị cáo dùng để di chuyển mua bán ma túy; kết quả tra cứu xe có số khung, số máy không bị đục, không bị xóa; xe mô tô biển số 59Y1-617.66 số khung: RLCS5C6H0EY0664739, số máy: 5C64H064752 (đang được gắn biển số 70D1-857.62). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh giải quyết theo thẩm quyền. (Theo biên bản giao nhận ngày 13-11-2024)

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Thị Kim L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-10-2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    * Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 bì thư được niêm phong ghi số vụ 1965 có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T2, trợ lý giám định Nguyễn Chí L1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong gồm có: 01 bịch nylon chứa chất rắn màu trắng (kí hiệu M) là H có khối lượng 0,8033 gam;
    • 01 túi xách màu đen;
    • 02 bao tay len màu tím, cổ bao tay màu xám, lưng bao tay có thú bông hình đầu mèo;
    • 03 mảnh nylon màu đen;
    • 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng;
    • 01 quẹt gas màu xanh;
    • 01 quẹt gas màu vàng;
    • 02 đoạn ống hút màu xanh sọc trắng không chứa gì;
    • 01 đoạn ống hút màu hồng sọc trắng không chứa gì;
    • 01 bơm kim tiêm không chứa gì;

    * Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền, vật do bị cáo dùng vào việc phạm tội:

    • Buộc bị cáo Lê Thị Kim L nộp số tiền 968.000 (Chín trăm sáu mươi tám ngàn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước
    • 01 điện thoại di động hiệu FORME màu đỏ, số IMEI: 353397060820621, bản phím vật lý;
    • Tiền Việt Nam đồng: 602.000 đồng, gồm: 01 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 100.000 đồng, số sê ri: DO 17822961; 09 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 50.000 đồng, số sê ri: VY 17743063, HV 21970995, XU 21944010, LM 20606171, XO 17749925, IG 22987681, IQ 17265066, KT 16835384, EO 16608079; 01 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 20.000 đồng, số sê ri: KU 22062537; 03 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 10.000 đồng, số sê ri: YS 18098976, SH 20880808, PS 17944170; 01 tờ tiền Việt Nam đồng (cotton) mệnh giá 2.000 đồng, số sê ri: AW 9146301 bên trong bì thư được niêm phong ghi số 1980, có chữ ký của Giám định viên Phạm Thị Minh N và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T;

    (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đang giữ theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19-12-2024)

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Thị Kim L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND TPTN;
  • - Sở tư pháp TN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - Đội ĐTTP về TTATXH;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Văn phòng CA.TPTN;
  • - Nhà tạm giữ CA.TPTN;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu THAHS;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Cẩm Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger