TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU -TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HSST Ngày: 17 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Khắc Tường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Bà Đoàn Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Cán bộ Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Sĩ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 172/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Đình N. Tên gọi khác: Không - sinh ngày: 23 tháng 08 năm 2007 (thời điểm thực hiện hành vi 17 tuổi 04 ngày) tại thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ F, thôn Q, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Lê Văn M (sinh năm: 1980, còn sống) và bà Nguyễn Thị Thùy V (sinh năm: 1981, còn sống). Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con thứ 03.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 242 ngày 22.03.2023 của Công an quận L, xử phạt cảnh cáo về hành vi mang vũ khí thô sơ trong người nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 306 ngày 24/10/2023 của Công an huyện H, xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 ngày 08/01/2024 của Công an quận. Cẩm Lệ, xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 12/08/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 BLHS.
Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 01 tháng 11 năm 2024, có mặt tại phiên toà.
- Hồ Đắc Anh K. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/07/2008 tại TP . (thời điểm thực hiện hành vi 16 tuổi, 18 ngày). Nơi thường trú: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: Số H H, P . H, Q . L, TP.Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Hồ Đắc Anh V1 (sinh năm: 1984) và bà Đỗ Ngọc Quỳnh N1 (sinh năm: 1982). Bị can là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đình N: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ. Địa chỉ: Số A Đ, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Đắc Anh K: Bà Lê Thị Hồng T1 – Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ. Địa chỉ: Số H H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình N: Ông Lê Văn M, sinh năm: 1980 và bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm: 1981. Cùng địa chỉ: Tổ F, thôn Q, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hồ Đắc Anh K: Ông Hồ Đắc Anh V1, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Số H H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, có mặt
- Bị hại:
- + Ông Nguyễn Phúc T2, sinh năm: 2004. Địa chỉ: Số G T, quận H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Trung H, sinh năm: 2001. Địa chỉ: Số A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Cháu Hồ Văn Song T3, sinh ngày: 18/3/2009. Người đại diện hợp pháp của cháu T3: Ông Hồ Văn K1, sinh năm: 1984 và bà Hồ Thị Thanh N2, sinh năm: 1985. Cùng địa chỉ: K T, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)
- + Cháu Nguyễn Tuấn S, sinh ngày: 08/9/2010. Người đại diện hợp pháp của cháu S: Ông Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị Quỳnh L, sinh năm: 1975. Cùng địa chỉ: P, khu C, chung cư B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Hồ Đắc Anh K và Lê Đình N rủ nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 28/08/2024, N điều khiển xe mô tô (đã trộm cắp được trước đó) chở K đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước nhà số G Q, P . T, Q . H, thành phố Đà Nẵng, phát hiện xe mô tô. Nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số 43D1-755.51 của anh Nguyễn Phúc T2 đang để trên vỉa hè. Nguyên cảnh giới cho K dắt trộm xe. Cả hai đem xe cất giấu tại vỉa hè khu vực ngã tư đường  - T, quận L, TP .Đà Nẵng.
Trưa ngày 29/08/2024, K và N tháo biển số 43D1-755.51 đem vứt vào bụi cây bên đường N, TP .. Sau đó, K và N đến nhà nghỉ T6, quận L, TP . chơi với Hồ Song Văn T5 và Nguyễn Tuấn S. Tại đây, K và N kể lại việc trộm cắp xe 43D1-755.51 cho T5 và S nghe. Do K và N không biết chỗ bán xe nên nói T5 tìm người để bán xe. Chiều ngày 29/08/2024, K và S đi chơi thì nhặt được chiếc biển số 43C1-085.73, cả hai đem về gắn vào xe đã trộm của anh T2.
Ngày 30/08/2024, T5 đăng lên facebook rao bán xe thì có người hẹn xem xe. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T5, S, N đem xe đã trộm của anh T2 đến trước nhà số D D T, P. Thanh Khê T, Q.T, TP.Đà Nẵng chờ người mua đến xem. Khi đang đứng chờ thì thấy Công an phường T đi tuần tra, sợ bị phát hiện nên cả ba bỏ chạy, để lại xe mô tô của anh T2. Công an phường T đã tạm giữ xe và bàn giao lại Công an quận H.
* Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, số Khung: RLHJA3902HY745917, số máy: JA39E0726064, gắn biển số: 43C1-085.73; 01 chiếc biển số 43D1-755.51; 01 chiếc biển số 43D1 -755.51.
Theo Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐG ngày 19/09/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận H kết luận: Xe mô tô biển số 43D1-755.51 nêu trên, có trị giá 11.130.000 đồng
Quá trình điều tra, các bị can N, K đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Lời khai nhận của các bị can phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, của người liên quan Nguyễn Tuấn S, Hồ Song Văn T5, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 01/VKS-CT ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Hồ Đắc Anh K và Lê Đình N về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Đình N 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 09 tháng tù theo bản án số 129/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Đắc A Khoa từ 06 tháng đến 09 tháng tù
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
Đối với các hành vi khác cụ thể là:
- Lần 01: Khoảng 00 giờ ngày 28/08/2024, K và N vào điểm giữ xe số 04 khu vực chợ H1, đường Â, P, Q. L, TP ., trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh ( không rõ biển số). N và K sử dụng xe này đi trộm cắp xe của anh T2 (vụ trộm nêu trên). Sau khi trộm được xe của anh T2, thấy xe ngày cũ quá nê K và N đem để lại vào bãi giữ xe trên.
- Lần 02: Trưa ngày 30/08/2024, K và S đến trước một nhà trọ ở khu vực dân cư gần cầu M, P. T, Q. S, TP ., trộm cắp một xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng ( không nhớ biển số). Sau đó, S bán xe cho một người đàn ông không rõ lai lịch với giá hơn 3.000.000 đồng.
Qua xác minh, không có bị hại nào báo tin bị mất xe nên cơ quan CSĐT Công an quận H đã chuyển thông tin cho cơ quan CSĐT Công an quận L và S để tiếp tục xác minh, xử lý
* Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Đắc Anh K và Lê Đình N trình bày quan điểm bào chữa:
Những người bào chữa đều thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo, thống nhất quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi nên khả năng nhận thức pháp luật còn rất hạn chế. Đề nghị xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm giáo dục các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Riêng đối với người bào chữa của bị cáo Hồ Đắc Anh K, ngoài các điều luật mà đại diện Viên kiểm sát đề nghị áp dụng còn đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 điều 51 và điều 65 để cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, đã thực sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo :
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo N, K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 28/08/2024, N điều khiển xe mô tô (đã trộm cắp được trước đó) chở K đi tìm tài sản . Khi đi đến trước nhà số G Q, quận H, thành phố Đà Nẵng, các bị cáo đã lén lút chiế đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số 43D1-755.51 của anh Nguyễn Phúc T2 trị giá 11.130.000 đ
Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, cáo trạng số 01/VKS-CT ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện thấy rằng hành vi này không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội này của bị cáo.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo N, K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Lê Đình N, ngoài lần phạm tội này, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản ” theo bản án số 129/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 ( đã có hiệu lực ). Do đó cần áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án.
Đối với đề nghị áp dụng điều 65 để cho bị cáo Hồ Đắc A Khoa được hưởng án treo của người bào chữa. Hội đồng xét xử thấy rằng, ngoài lần phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Bị cáo còn tự khai mình còn thực hiện hai lần trộm cắp xe máy khác trên địa bàn quận L, quận S. Điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó không thể cho bị cáo hưởng án treo mà cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đen và giáo dục.
[6]. Về xử lý vật chứng: vật chứng đã thu giữ trả lại cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.
[7]. Về án phí HSST: Các bị cáo Lê Đình N và Hồ Đắc A Khoa phải chịu 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Đình N và Hồ Đắc Anh K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 56 đ Điều 90, điều 91, và điều 101 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình N 01 ( một ) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản ”. Tổng hợp hình phạt 09 ( chín) tháng tù theo bản án số 129/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 tháng (một năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 90, điều 91 và điều 101 Bộ luật hình sự;.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Đắc Anh K 06 (sáu) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
2. Về án phí:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Lê Đình N và Hồ Đắc Anh K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Khắc Tường |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố các bị cáo Lê Đình Nguyên và Hồ Đắc Anh Khoa phạm tội "Trộm cắp tài sản" Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 56 đ Điều 90, điều 91, và điều 101 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Nguyên 01 ( một ) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản ”. Tổng hợp hình phạt 09 ( chín) tháng tù theo bản án số 129/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 tháng (một năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2024. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 90, điều 91 và điều 101 Bộ luật hình sự;. Xử phạt: Bị cáo Hồ Đắc Anh Khoa 06 (sáu) tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án. 2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Lê Đình Nguyên và Hồ Đắc Anh Khoa phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
