Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 14 - 02 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Dệt
  2. Ông Lại Duy Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Mai Xuân Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 30/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 08/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa 02/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 04/TB-MLPTXX ngày 07/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quang T; sinh ngày 02/9/1982, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tiểu khu Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Số CCCD: [...]; con ông: Lê Hồng T1 con bà Hoàng Thị S. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 02, có vợ là Nguyễn Thị Thu H, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024. Hiện vợ con đang sinh sống tại Tiểu khu Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Bị cáo là Đảng viên Đ thuộc Chi bộ Đ1, Đảng bộ thị trấn N. Hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 96-QĐ/UBKTHU ngày 28/10/2024 Ủy ban kiểm tra huyện ủy N.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam. Bị can hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Tiểu khu Đ, trị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

Anh Phạm Thanh S1, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn B, huyện N - Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng thời gian cuối tháng 9 năm 2024, thời điểm Lê Quang T, lái xe ô tô chở khách từ tỉnh Bình Dương về tỉnh Thanh Hóa. Trên đường về, T dừng nghỉ tại một quán ăn cơm thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị (T không rõ tên và địa chỉ của quán ăn). Tại đây T nghe thấy một số người nói chuyện về việc mua bán pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất với giá rẻ nên T nảy sinh ý định mua mang về bán kiếm lời. T hỏi nhóm người đang nói chuyện để mua pháo hoa nổ thì có một người đàn ông (T không biết tên, địa chỉ) trả lời là có sẵn pháo hoa nổ, T đã hỏi mua 10 (mười) hộp, hai bên thống nhất gá một hộp là 750.000đ. Người đàn ông đưa pháo hoa cho T, T kiểm tra thì thấy có 10 (mười) hộp pháo loại 49 lỗ hình hộp chữ nhật, T nhận pháo, thanh toán tiền cho người bán với số tiền là 7.500.000đ và cất 10 (mười) hộp pháo hoa vào khoang dưới của xê ô tô mang về Thanh Hóa bán kiếm lời. T có hỏi và lưu lại số điện thoại của người đàn ông bán pháo là 0588.639.635. Trên đường về Thanh Hóa do có 01 (một) hộp pháo hoa nổ bị nước đổ vào, không còn khả năng nổ nên T đã vứt hộp pháo này bên đường, còn 09 (chín) hộp, T mang về cất vào kho nhà mình. Để bán pháo T đăng lên trang facebook cá nhân của mình về việc bán pháo hoa do Bộ Q sản xuất và công khai số điện thoại của T là 0974.420.xxx và mã QR của tài khoản Zalo của T là “Q”. Sau khi đăng thông tin bán pháo thì có tài khoản Zalo tên “Xuân Hưng” (không có thông tin cá nhân và số điện thoại của chủ tài khoản) kết bạn và gọi cho T qua zalo hỏi mua pháo hoa, T trả lời chỉ có pháo hoa nổ của Trung Quốc sản xuất với giá 850.000đ (tám trăm năm mươi nghìn đồng) một hộp thì chủ tài khoản Zalo “Xuân Hưng” đồng ý mua, về thời gian, địa điểm, cách thức giao nhận hàng cụ thể sẽ thống nhất sau.

Ngày 03/10/2024 tài khoản Zalo “Xuân H1” nhắn tin cho T đặt mua 05(năm) hộp pháo hoa nổ và bảo T gửi hàng qua xe buýt số 16 nhưng hẹn đến ngày hôm sau mới chuyển tiền và lấy hàng. T bảo bên mua chuyển tiền trước số tiền 4.250.000₫ qua tài khoản ngân hàng A số 11125777 của Nguyễn Thị Thu H (là vợ T) và thống nhất khi nào nhận được tiền thì sẽ gửi pháo hoa nổ. Đến trưa ngày 04/10/2024 tài khoản Zalo “Xuân H1” nhắn tin cho T là đã chuyển khoản số tiền 4.250.000đ (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để mua 05 (năm) hộp pháo hoa nổ và bảo T gửi pháo qua xe buýt số 16 về cây xăng N thành phố T sẽ có người đón nhận hàng, sau khi kiểm tra biết số tiền 4.250.000đ (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã được chuyển vào tài khoản của Nguyễn Thị Thu H, T đóng 05 (năm) hộp pháo hoa nổ vào một thùng cacton màu nâu, dán kín xung quanh và báo cho tài khoản “X” biết thời gian gửi hàng, thông tin xe buýt ngay sau khi gửi hàng xong, sau đó tài khoản Zalo “Xuân Hưng” gọi điện cho T để đặt vấn đề mua thêm pháo hoa nổ thì T báo lại chỉ còn 04(bốn) hộp pháo hoa nổ, tài khoản Zalo “X” đồng ý mua hết 04 (bốn) hộp pháo hoa nổ này, T hẹn ngày mai khi nhận được tiền sẽ tiếp tục gửi pháo

Khi T đang chuẩn bị gửi 05 (năm) hộp pháo hoa nổ lên xe buýt tại tiểu khu Đ, thị trấn N, huyện N thì bị Công an tỉnh T bắt quả tang, thu giữ một thùng cacton bên trong có 05 (năm) hộp pháo. Tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của Lê Quang T tại số F, tiểu khu Đ, thị trấn N, huyện N, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T thu giữ được 04 (bốn) hộp pháo hoa nổ tại nhà kho của gia đình Lê Quang T

Trong quá trình điều tra Lê Quang T dã giao nộp một thẻ Đảng viên; một điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng số IMEI: 358609073553642, đã sử dụng. Kiểm tra điện thoại do T giao nộp phát hiện tại mục tin nhắn Zalo có nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán pháo hoa nhập lậu với tài khoản “Xuân Hưng”

Ngày 05/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T Quyết định trưng cầu giám định đối với 05 (năm) hộp pháo thu giữ khi bắt quả tang và 04(bốn) hộp pháo thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà Lê Quang T. Ngày 07/10/2024 Phòng K Công an tỉnh T có Kết luận số 3683/KL-KTHS kết luận về đối tượng giám định:

  1. 05 (năm) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự “KS4-4911X” bên trong có 49 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 1,9cm, được kết nối với nhau bằng sợi dây ngòi dưới đáy hộp của thùng cacton niêm phong, ký hiệu M1 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 9,26kg (chín phẩy hai sáu ki lô gam).
  2. 04 (bốn) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự “KS4-4911X” bên trong có 49 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 1,9cm, được kết nối với nhau bằng sợi dây ngòi dưới đáy hộp của thùng cacton niêm phong, ký hiệu M2 gửi giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 7,2kg (bảy phẩy hai ki lô gam)

Đối với người đàn ông ở tỉnh Quảng Trị đã bán 10 (mười) hộp pháo hoa nổ cho Lê Quang T, T không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan ĐT đã tiến hành xác minh nhưng không có cơ sở xử lý.

Đối với chủ tài khoản Zalo “X” là người đã liên hệ, mua pháo hoa nổ của T và chuyển số tiền 4.250.000đ cho T để mua pháo. Cơ quan CSĐT đã có Công văn yêu cầu Công ty cổ phần V cung cấp thông tin về tài khoản Zalo “Xuân Hưng” tuy nhiên Cơ quan ĐT Công an huyện N vẫn chưa nhận được kết quả. Cơ quan CSĐT công an huyện N sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1983 (là vợ của T) là chủ của số tài khoản ngân hàng A số 11125777, khi bán pháo T đã cung cấp số tài khoản ngân hàng của chị H cho chủ tài khoản Z “X” để chuyển số tiền 4.250.000đ. H không biết việc T buôn bán pháo nên không có căn cứ để xử lý. H đã giao nộp số tiền 4.250.000đ cho Cơ quan điều tra.

Số tài khoản ngân hàng A1 đã chuyển tiền cho T vào số tài khoản ngân hàng A số 11125777 để mua pháo, số tài khoản trên là của anh Phạm Thanh S1, sinh năm 1978 ở khu phố C, thị trấn B, huyện N, Thanh Hóa, theo lời khai của anh S1 vào khoảng 09 giờ, ngày 04/10/2024 S1 được một nam thanh niên nhờ chuyển hộ số tiền 4.250.000đ đến số tài khoản ngân hàng A số 11125777 mang tên Nguyễn Thị Thu H. S1 không biết lý do chuyển tiền và cũng không biết tên, tuổi địa chỉ của người nhờ chuyển tiền nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

* Vật chứng vụ án:

  • + Một thùng cacton kích thước (35 x 30 x 12)cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký, họ tên: Trần Nam G; Đỗ Xuân H2; hình dấu tròn mầu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T”.
  • + Một thùng cacton kích thước (36 x 21 x 21)cm được dán kín, niêm phong bởi chữ ký, họ tên: Trần Nam G; Đỗ Xuân H2; hình dấu tròn mầu đỏ có nội dung: “Phòng K - Công an tỉnh T”.

Các mẫu vật trên hiện được bảo quản tại Cơ quan CSĐT Công an huyện N chờ xử lý.

  • - Đối với số tiền 4.250.000đ và 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng số IMEI: 358609073553642, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự huyện N.
  • * Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 27/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Quang T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).
  • * Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Điều 328 BLTTHS, xử phạt Lê Quang T mức án từ 20 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 40 tháng đến 48 tháng; phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ; tịch thu và tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định; tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 4.250.000đ và 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng số IMEI: 358609073553642; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được: Vào khoảng thời gian cuối tháng 9 năm 2024, Lê Quang T, lái xe ô tô chở khách từ tỉnh Bình Dương về tỉnh Thanh Hóa. Trên đường về, T dừng nghỉ tại một quán ăn cơm thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị, tại đây T đã mua 10 (mười) hộp pháo hoa nổ Trung Quốc với giá 7.500.000đ của một người đàn ông không quen biết rồi cất vào khoang dưới của xê ô tô mang về Thanh Hóa. Trên đường về có 01 (một) hộp pháo bị nước trên xe đổ vào nên T đã vứt hộp pháo hỏng xuống bên đường, còn 09 (chín) hộp T cất giữ tại kho nhà T nhằm mục đích bán kiếm lời bằng hình thức đăng thông tin lên Zalo của mình. Ngày 04/10/2024 từ tài khoản Zalo “Xuân H1” nhắn tin cho T là đã chuyển khoản số tiền 4.250.000đ để mua 05 (năm) hộp pháo hoa nổ phương thức vận chuyển qua xe buýt số 16, địa điểm nhận hàng tại Cây xăng N thành phố T. T kiểm tra tài khoản thấy người mua đã chuyển 4.250.000₫ nên T đóng 05 (năm) hộp pháo hoa nổ vào một thùng cacton màu nâu, dán kín và báo cho người mua biết thời gian gửi hàng, thông tin xe buýt để nhận hàng. Sau đó tài khoản Zalo “Xuân Hưng” gọi điện cho T để đặt vấn đề mua thêm pháo hoa nổ thì T báo lại chỉ còn 04(bốn) hộp pháo hoa nổ, người hỏi mua đồng ý mua cả 04 (bốn) hộp, T hẹn ngày mai khi nhận được tiền sẽ chuyển pháo. Khi T chuẩn bị gửi 05 (năm) hộp pháo hoa nổ lên xe buýt thì bị Công an tỉnh T bắt quả tang, thu giữ tại một thùng cacton bên trong có 05 (năm) hộp pháo, khám xét nơi ở của T Cơ quan điều tra thu được 04 (bốn) hộp pháo hoa nổ. Tổng khối lượng hàng cấm bị cáo mua bán bị bắt giữ là 16,46kg. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại CQĐT, phù hợp với tang vật chứng thu đã được giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS. Như vậy, Cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; gây mất trật tự trị an trên địa bàn nhất là thời điểm trước, trong và sau tết nguyên đán. Vì vậy, cần xử lý nghiêm loại tội phạm này bằng pháp luật hình sự để giáo dục bị cáo thành người tốt và răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng mà có các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; có công đóng góp xây dựng quê hương được cấp có thẩm quyền xác nhận. Các tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại các điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS; về nhân thân: Bị cáo không tiền án, tiền sự.
  5. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo; HĐXX xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người tốt và răn đe giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam trong vụ án khác.
  6. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán hàng cấm mục đích kiếm lời nên cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước.
  7. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ lượng pháo còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động và 4.250.000đ do mua bán hàng cấm mà có.
  8. Về án phí: Bị cáo có tội bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS: Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; BLHS; Điều 328 BLTTHS.

Xử phạt bị cáo Lê Quang T 22 (hai mươi hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 44 (bốn mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/02/2025). Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam trong vụ án khác. Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000đ nộp vào ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Lê Quang T cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ pháo nổ còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong.(Hiện đang bảo quản tại Công an huyện N theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu,vật chứng ngày 26/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Công an huyện N).

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng số IMEI: 358609073553642, đã qua sử dụng và 4.250.000đ (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành dân sự huyện N và Biên lai thu số 0001598 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành dân sự huyện N)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với những nội dung liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải Thi hành án dân sự có quyền tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Nông Cống;
  • - TAND Tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Nông Cống;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (tội buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quang T - Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger