Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 09/2025/KDTM-ST

Ngày: 13/02/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hà

2. Bà Lưu Thị Kim Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 141/2024/TB-TLVA 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 534/2024/QĐXXST-KDTM ngày 25/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐ-HPT ngày 17/01/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B); Địa chỉ trụ sở: số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L – Tổng Giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thanh N, ông Đặng Việt H, ông Đỗ Trung K, bà Lại Thị Bắc H1, bà Nguyễn Thị Thu H2. (Ông H, ông K, bà H1 có mặt)

- Bị đơn: Công ty Cổ phần P; Địa chỉ: Số B, ngõ B, đường H, Phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn M – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn H3 (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn H3, sinh năm 1982; Trú tại: B Ngõ A H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Đ trình bày:

Công ty P đã vay vốn của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Sở giao dịch 3 theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3329846/HĐTDHM ký ngày 07/4/2022, cụ thể: Hạn mức cấp tín dụng: 45.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi lăm tỷ đồng); Thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng hạn mức; Thời hạn vay: Theo từng Hợp đồng tín dụng cụ thể; Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh, mở L1; Trên cơ sở thực hiện Hợp đồng tín dụng hạn mức nêu trên, B – CN Sở giao dịch 3 đã thực hiện giải ngân thể hiện qua 43 Hợp đồng tín dụng cụ thể gồm 25 Hợp đồng tín dụng cụ thể đã thu nợ và 18 Hợp đồng tín dụng cụ thể chưa thu nợ.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần P, bên thứ ba là ông Phan Văn H3 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2018/3329846/HĐBĐ ngày 05/11/2018 với Ngân hàng Đ; Số công chứng: 2992/2018/HĐTC, quyển số 30/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 025694 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08/8/2018 cho ông Phan Văn H3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS-TH 02705.

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức, Công ty Cổ phần P có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Đ theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký. Tuy nhiên, từ đầu năm 2023, Công ty Cổ phần P không trả đúng và đủ nợ vay cho Ngân hàng Đ như đã cam kết tại Hợp đồng tín dụng hạn mức.

Ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết những yêu cầu sau:

- Buộc Công ty Cổ phần P phải thanh toán cho Ngân hàng Đ toàn bộ số tiền tính đến hết ngày 11/02/2025 là 16.498.981.343 đồng; Trong đó: nợ gốc là 12.738.521.470 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.726.950.287 đồng, nợ lãi quá hạn: 901.429.359 đồng, lãi phạt lãi quá hạn 132.080.227 đồng.

- Công ty Cổ phần P phải tiếp tục trả lãi kể từ ngày 12/02/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký và các hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký cho đến ngày Công ty Cổ phần P trả hết nợ.

Trường hợp Công ty Cổ phần P không trả hoặc trả không đủ nợ thì Ngân hàng Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 202 (1 phần), tờ bản đồ số 11, địa chỉ: Tổ B cụm D, phường T, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 025694, số vào sổ cấp GCN: CS-TH02705 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08/8/2018 cho ông Phan Văn H3.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần P đối với Ngân hàng Đ. Trong trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ trả hết nợ cho Ngân hàng thì Công ty Cổ phần P vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.

*Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần P – ông Phan Văn H3 trình bày:

Công ty Cổ phần P xác nhận có ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3329846/HĐTDHM ký ngày 07/04/2022, cụ thể: Hạn mức cấp tín dụng: 45.000.000.000 đồng; Thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng hạn mức; Thời hạn vay: Theo từng Hợp đồng tín dụng cụ thể; Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh, mở L1. Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Công ty Cổ phần P đã được giải ngân số tiền theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể như nguyên đơn trình bày là đúng.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần P, bên thứ ba là ông Phan Văn H3 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2018/3329846/HĐBĐ ngày 05/11/2018 với Ngân hàng Đ; Số công chứng: 2992/2018/HĐTC, quyển số 30/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 025694 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08/8/2018 cho ông Phan Văn H3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS-TH 02705.

Công ty Cổ phần P xác nhận còn nợ Ngân hàng B toàn bộ số tiền gốc, lãi tính đến hết ngày 30/11/2024 là 16.276.310.201 đồng ; Trong đó bao gồm: nợ gốc là 12.738.521.470 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.504.279.145 đồng, lãi quá hạn là 1.033.509.586 đồng.

Công ty Cổ phần P mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện và chấp nhận phương án trả nợ của Công ty là Ngân hàng cho ông Phan Văn H3 trả nợ thay cho Công ty Cổ phần P số tiền 7.000.000.000 đồng trong tháng 01/2025 và Ngân hàng cho ông H3 rút tài sản, lấy lại giấy chứng nhận. Số tiền gốc lãi còn lại thì Công ty Cổ phần P sẽ phải trả Ngân hàng trong thời gian đến cuối năm 2026.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Phan Văn H3 trình bày:

Ông H3 xác nhận thời điểm ký Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần P, bên thứ ba là ông Phan Văn H3 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2018/3329846/HĐBĐ ngày 05/11/2018 với Ngân hàng Đ; Số công chứng: 2992/2018/HĐTC, quyển số 30/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 025694 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08/8/2018 cho ông Phan Văn H3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS-TH 02705.

Ông H3 mong muốn Ngân hàng Đ tạo điều kiện và chấp nhận phương án trả nợ của Công ty Cổ phần P là Ngân hàng cho ông Phan Văn H3 trả nợ thay cho Công ty Cổ phần P số tiền 7.000.000.000 đồng trong tháng 01/2025 và Ngân hàng cho ông H3 rút tài sản, lấy lại giấy chứng nhận. Số tiền gốc lãi còn lại thì Công ty P sẽ phải trả Ngân hàng trong thời gian đến cuối năm 2026.

Tại phiên tòa

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • * Bị đơn: Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn H3 vắng mặt lần thứ 2 không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình xét xử vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc tống đạt, niêm yết các văn bản của Tòa án, trong quá trình xét xử vụ án.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về hình thức và nội dung Hợp đồng hạn mức tín dụng; các hợp đồng tín dụng cụ thể; Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích nhận định trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định: Căn cứ các Điều 351, Điều 352, Điều 353, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty Cổ phần P phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ gốc, tiền lãi theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp Công ty Cổ phần P không trả được nợ cho Ngân hàng TMCP Đ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Công ty Cổ phần P phải thanh toán số tiền do vi phạm Hợp đồng tín dụng hạn mức nên xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại tranh chấp về Hợp đồng tín dụng. Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với hợp đồng tín dụng hạn mức, Ngân hàng TMCP Đ và Công ty Cổ phần P có ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3329846/HĐTDHM ngày 07/4/2022. Hạn mức cấp tín dụng: 45.000.000.000 đồng. Khi ký Hợp đồng tín dụng các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không có dấu hiệu bị lừa dối, cưỡng ép, kể từ ngày hợp đồng được ký kết đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Ngân hàng TMCP Đ đã giải ngân cho Công ty Cổ phần P theo các hợp đồng tín dụng cụ thể đã ký. Trong Hợp đồng tín dụng đều có nội dung thỏa thuận về mục đích vay vốn, lãi suất cho vay, kỳ hạn trả nợ, lãi suất quá hạn. Hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự; Luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay. Do đó xác định là hợp đồng hợp pháp, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện.

Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3329846/HĐTDHM ngày 07/4/2022 có quy định lịch trả nợ gốc và lãi trong quá trình thực hiện hợp đồng, song Công ty Cổ phần P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ là vi phạm các thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký. Do đó, Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Công ty Cổ phần P thanh toán số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký là 12.738.521.470 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu tiền lãi:

Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3329846/HĐTDHM ngày 07/4/2022 có quy định “Áp dụng lãi suất ....”.

Xét thấy, các thỏa thuận về lãi được ghi rõ trong hợp đồng và tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Công ty Cổ phần P đều xác nhận khoản nợ gốc, khoản nợ lãi đối với Ngân hàng Đ nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Đ buộc Công ty Cổ phần P phải trả Ngân hàng Đ số tiền lãi tính đến hết ngày 11/02/2025 là: Nợ lãi trong hạn: 2.726.950.287 đồng; nợ lãi quá hạn: 901.429.359 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ về việc buộc Công ty CP P phải thanh toán số tiền lãi trên nợ lãi chậm trả với số tiền: 132.080.227 đồng là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[2.3] Đối với hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức của Công ty Cổ phần P, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phan Văn H3 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 03/2018/3329846/HĐBĐ ngày 05/11/2018 với Ngân hàng Đ; Số công chứng: 2992/2018/HĐTC, quyển số 30/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 025694 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08/8/2018 cho ông Phan Văn H3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS-TH 02705.

Tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp trên chỉ đảm bảo cho khoản vay của Công ty Cổ phần P, không dùng để đảm bảo cho khoản vay nào khác.

Công ty Cổ phần P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đồng ý thế chấp cho Ngân hàng Đ toàn bộ tài sản thế chấp trên để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ cho Công ty Cổ phần P. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 chi nhánh quận T ngày 12/11/2018 là đúng với các quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Xét thấy, các bên ký Hợp đồng thế chấp nói trên đều có đủ năng lực hành vi dân sự, đều tự nguyện, không bị cưỡng ép, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, được ký kết tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tự nguyện, theo đúng trình tự thủ tục, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy các bên có trách nhiệm và nghĩa vụ tiếp tục thực hiện, tiếp tục duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.

Trong trường hợp Công ty Cổ phần P không trả số nợ nêu trên thì Ngân hàng Đ có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp và theo quy định của pháp luật để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên.

Trường hợp giá trị tài sản thế chấp không đủ để thanh toán cho khoản vay thì Công ty Cổ phần P phải tiếp tục thanh toán số nợ còn lại.

[3]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4].Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần P phải chịu án phí sơ thẩm là 124.366.901 đồng. Ngân hàng phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 6.604.011 đồng.

[5].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các căn cứ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 351, Điều 352, Điều 353, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư 12 ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Áp dụng Điều 44 Luật doanh nghiệp năm 2020;

Áp dụng Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm;

Áp dụng Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Áp dụng Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 về việc ban hành Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng;

Áp dụng Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính Phủ về công chứng, chứng thực.

Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ đối với Công ty CP P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

2. Buộc Công ty CP P phải thanh toán cho Ngân hàng Đ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2022/3329846/HĐTDHM ngày 07/4/2022 số tiền nợ tính đến hết ngày 11/02/2025 là 16.366.901.116 đồng (Mười sáu tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm linh một nghìn một trăm mười sáu đồng); Trong đó: nợ gốc là 12.738.521.470 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.726.950.287 đồng, nợ lãi quá hạn là 901.429.359 đồng.

Kể từ ngày 12/02/2025, Công ty CP P còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hạn mức cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ đối với Công ty Cổ phần P về việc buộc Công ty CP P phải thanh toán số tiền lãi trên nợ lãi chậm trả với số tiền: 132.080.227 đồng.

4. Trong trường hợp Công ty Cổ phần P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp. Tài sản thế chấp là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của bên thế chấp theo Giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 025694 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08/8/2018 cho ông Phan Văn H3, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS-TH 02705.

Ngân hàng Đ tiếp tục quản lý hồ sơ tài sản thế chấp của Công ty CP P để đảm bảo cho việc thi hành án.

5. Khi phát mại tài sản thế chấp nêu trên, nếu thiếu thì Công ty CP P tiếp tục phải trả cho Ngân hàng Đ số tiền còn thiếu.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty CP P phải nộp số tiền 124.366.901 đồng (Một trăm hai mươi tư triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm linh một đồng). Ngân hàng Đ phải chịu án phí sơ thẩm là: 6.604.011 đồng (Sáu triệu sáu trăm linh bốn nghìn không trăm mười một đồng). Xác nhận Ngân hàng Đ đã nộp 61.900.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0030607 ngày 07/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ba Đình. Ngân hàng Đ được nhận lại số tiền 55.295.989 đồng. (Năm mươi lăm triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm tám mươi chín đồng)

8. Án xử công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - TAND TP Hà Nội
  • - VKSND TP Hà Nội
  • - THADS quận Ba Đình;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/KDTM-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B); Địa chỉ trụ sở: số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L – Tổng Giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thanh N, ông Đặng Việt H, ông Đỗ Trung K, bà Lại Thị Bắc H1, bà Nguyễn Thị Thu H2. (Ông H, ông K, bà H1 có mặt) - Bị đơn: Công ty Cổ phần P; Địa chỉ: Số B, ngõ B, đường H, Phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn M – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn H3 (Vắng mặt) - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn H3, sinh năm 1982; Trú tại: B Ngõ A H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger