Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/KDTM-ST

Ngày: 06/02/2025

V/v: tranh chấp hợp đồng

dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Huỳnh Sơn Tây;
  • 2/ Ông Nguyễn Văn Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 210/2024/TLST-KDTM ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST–KDTM ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QÐST-KDTM ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH T; địa chỉ: số G N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Hoàng K, sinh năm 2001; địa chỉ: số A đường D, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22/11/2024), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH G (trước đây là Công ty TNHH L); địa chỉ: Số C F, tổ E, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thụy Quỳnh N, Giám đốc công ty, là người đại diện theo pháp luật, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 04/3/2024, Công ty TNHH T (sau đây viết tắt là Công ty T) và Công ty TNHH G (sau đây viết tắt là Công ty G) ký kết hợp đồng kinh tế số 031/NV-LS về việc Công ty T cung cấp dịch vụ cung ứng lao động phổ thông, thời vụ cho Công ty G. Thực hiện hợp đồng, Công ty T đã cung ứng lao động đầy đủ cho Công ty G nhưng Công ty G đã không thanh toán tiền cho Công ty T.

Ngày 15/9/2024, hai bên đã ký bản xác nhận công nợ. Công ty G thừa nhận còn nợ Công ty T 401.763.763 đồng. Sau khi các bên xác nhận công nợ, Công ty T đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu Công ty G thanh toán tiền nhưng Công ty G không thực hiện. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc Công ty G có nghĩa vụ thanh toán cho công ty T 401.763.763 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty G vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T với bị đơn Công ty G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, người đại diện hợp pháp của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Theo kết quả xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T xác định bị đơn Công ty G có trụ sở tại số 03/ĐX 06, tổ E, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại Văn bản số 2418/ĐKKD ngày 20/11/2024 của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh B có nội dung thể hiện Công ty G, tình trạng pháp lý: đang còn hoạt động. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty G nhưng bị đơn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, bị đơn vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3] Chứng cứ do nguyên đơn Công ty T giao nộp là hợp đồng kinh tế số 031/NV-LS ngày 04/3/2024 có nội dung Công ty T cung ứng lao động phổ thông, thời vụ cho Công ty G, hợp đồng quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên. Căn cứ Điều 24 Luật Thương mại, có căn cứ xác định giữa Công ty T và Công ty G có tồn tại hợp đồng cung ứng dịch vụ.

[4] Chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Công ty T cung ứng dịch vụ cho Công ty G, đến ngày 10/4/2024, Công ty T xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 1C24TNV với số tiền 185.928.615 đồng; ngày 13/5/2024, Công ty T xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 1C24TNV với số tiền 276.984.414 đồng; Công ty G đã thanh toán số tiền 115.928.615 đồng của hóa đơn giá trị gia tăng số 1C24TNV ngày 10/4/2024, số tiền còn lại chưa thanh toán; đến ngày 05/7/2024, Công ty G xác nhận công nợ chưa thanh toán cho Công ty T gồm tiền gốc và lãi là 374.205.662 đồng; ngày 29/8/20024, Công ty G gửi giấy xác nhận thanh toán cho Công ty T về việc thanh toán tiền nhưng sau đó không thực hiện; đến ngày 16/9/2024, Công ty G tiếp tục xác nhận công nợ với Công ty T về việc xác nhận tổng số tiền gốc và lãi là 401.763.763 đồng. Các văn bản này đều được người đại diện hợp pháp của Công ty G ký và đóng dấu. Do đó, việc Công ty G không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty T yêu cầu Công ty G thanh toán 401.763.763 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[5] Đối với tiền lãi: Công ty T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T với bị đơn Công ty G.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[8] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 30, 35, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 24, 50, 55, 306 của Luật Thương mại;
  • - Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T với bị đơn Công ty TNHH G về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

Buộc Công ty TNHH G có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH T số tiền 401.763.763 đồng (Bốn trăm lẻ một triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm sáu ba đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Buộc Công ty TNHH G phải chịu 20.070.551 đồng (Hai mươi triệu không trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mốt đồng).

Trả lại cho Công ty TNHH T 10.035.000 đồng (Mười triệu không trăm ba mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004689 ngày 22/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương Diệp

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/KDTM-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 09/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TC HĐ MBHH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger