|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06/02/2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chau Khon Sốc;
Ông Hồ Văn Dũng.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường - thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau San, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 325/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Định Văn H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 14 tháng 10 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Bà L và ông H tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2015 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 29/10/2015. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng mẫu thuẫn ngày càng nhiều do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông H không tôn trọng ý kiến của bà L. Nhận thấy tình cảm không còn nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà L và ông H thống nhất có 03 (ba) con chung tên là Đinh Văn M, sinh ngày 01/5/2012; Đinh Thị M1, sinh ngày 01/8/2014 và Đinh Văn M2, sinh ngày 23/5/2020. Hiện 03 (ba) con chung do bà L trực tiếp chăm sóc. Khi ly hôn, bà L yêu cầu nuôi dưỡng 03 (ba) con chung, bà L không yêu cầu cấp ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Đinh Văn H1 trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian điều kiện kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng không hoà hợp, mẫu thuẫn ngày càng nhiều, thường xuyên bất đồng quan điểm do ông phải đi làm thuê ở xa, ít có thời gian chăm sóc gia đình, nhưng ông cũng tranh thủ thời gian rảnh để về nhà thăm vợ con. Trước yêu cầu ly hôn của bà L ông H1 không đồng ý ly hôn, đề nghị được đoàn tụ do còn thương vợ con và mâu thuẫn không lớn, vẫn có thể hàn gắn.
Về con chung: Bà L và ông H1 thống nhất có 03 (ba) con chung tên là Đinh Văn M, sinh ngày 01/5/2012; Đinh Thị M1, sinh ngày 01/8/2014 và Đinh Văn M2, sinh ngày 23/5/2020. Hiện 03 (ba) con chung do bà L trực tiếp chăm sóc. Nếu ly hôn, ông H1 đồng ý cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng 03 (ba) con chung và ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông H1 xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà L và ông H1 xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông H1 không tôn trọng ý kiến của bà nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cảm thấy không thể sống chung với nhau được nữa. Qua xác minh ngày ngày 28/11/2024 cho thấy vợ chồng bà L và ông H1 không có biện pháp hàn gắn, điều nay cho thấy cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L đối với ông H1.
Về con chung: Bà L và ông H1 thống nhất có 03 (ba) con chung tên là Đinh Văn M, sinh ngày 01/5/2012; Đinh Thị M1, sinh ngày 01/8/2014 và Đinh Văn M2, sinh ngày 23/5/2020. Hiện 03 con đang sống với bà L, bà L yêu cầu được nuôi 03 con, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, từ khi ly thân đến nay bà L luôn đảm bảo việc nuôi con, nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con của bà L là hợp lý, đề nghị chấp nhận. Bà L không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Dương Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án, bị đơn ông Đinh Văn H1 vắng mặt nên không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Đinh Văn H1 có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà L và ông H1 xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà L và ông H1 xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông H1 không tôn trọng ý kiến của bà nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cảm thấy không thể sống chung với nhau được nữa. Qua xác minh ngày ngày 28/11/2024 cho thấy vợ chồng bà L và ông H1 không có biện pháp hàn gắn, điều nay cho thấy cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị L đối với ông Đinh Văn H1 là có căn cứ.
Về con chung: Bà L và ông H1 thống nhất có 03 (ba) con chung tên là Đinh Văn M, sinh ngày 01/5/2012; Đinh Thị M1, sinh ngày 01/8/2014 và Đinh Văn M2, sinh ngày 23/5/2020. Hiện 03 con đang sống với bà L, bà L yêu cầu được nuôi 03 con, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, từ khi ly thân đến nay bà L luôn đảm bảo việc nuôi con, nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con của bà L là hợp lý. Bà L không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Bà Dương Thị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định. Ông Đinh Văn H1 không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228, 217, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Dương Thị L được ly hôn với ông Đinh Văn H1.
Về con chung: Bà Dương Thị L được nuôi con chung tên Đinh Văn M, sinh ngày 01/5/2012; Đinh Thị M1, sinh ngày 01/8/2014 và Đinh Văn M2, sinh ngày 23/5/2020. Ông Đinh Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Dương Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Dương Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bà Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012757 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, bà M3 đã nộp đủ án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà L có quyền kháng cáo bản án. Riêng ông H1 có quyền kháng cáo bán án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Tri Tôn;
- - TAND tỉnh An Giang;
- - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu văn phòng.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
