Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Biền Ngân và ông Nguyễn Văn Tạo

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

tham gia phiên tòa: Ông Cao Phạm Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 09/01/2025, đối với các bị cáo:

  1. Trịnh Công A, sinh ngày 11/10/1998; tại: huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn B và bà Trịnh Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 15/10/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Trịnh Văn G, sinh ngày 05/4/1983; tại: huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn S, xã Q, Q, Quảng Bình; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn V và bà Giã Thị Y (đều đã chết); có vợ Tưởng Thị L và 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh kể từ ngày 15/10/2024. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Trịnh Văn B1, sinh ngày 10/05/1992; tại: huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, Q, Quảng Bình; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn B và bà Trịnh Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T hoãn xuất cảnh kể từ ngày 15/10/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đàm Thanh L1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt;
  • + Anh Đặng Xuân T1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  • + Anh Đặng Thanh H; chị Đặng Thị T2; anh Phan Thanh T3; Anh Đặng Xuân Đ; Chị Nguyễn Thị H1; Chị Lương Thị N; Anh Đàm Thanh T4; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 12/10/2024, Trịnh Công A cùng Trịnh Văn B1, Trịnh Văn G và Phan Văn T5 sau khi ăn nhậu xong cùng đến hát Karaoke tại quán Q thuộc thôn S, xã Q (phòng H2). Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Đàm Thanh L1, Đặng Xuân T1, Đặng Xuân Đ và Đặng Thanh H cũng đến hát Karaoke tại quán Q (phòng V2). Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, cả hai nhóm không hát nữa ra về. Khi đi đến trước sân quán, T1 nói với nhóm của Trịnh Công A là tại sao nhóm T1 đang hát mà nhóm của Anh lại cứ mở cửa. Cùng lúc đó, Trịnh Văn G nghe tiếng Tuyên chửi tục, nên đã xông vào dùng tay đánh T1. Thấy G đánh T1, Trịnh Công A và Trịnh Văn B1 cùng xông vào đánh T1. Thấy T1 bị đánh, Đàm Thanh L1 quay lại dùng tay đánh lại nhóm Anh thì bị Trịnh Công A và Trịnh Văn B1 xông vào đánh. Trong quá trình đánh, Trịnh Công A sử dụng mũ cối, loại mũ cứng đánh T1 và L1 còn Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G dùng sử dụng tay không. Khi đánh T1 ngã nằm trên sân, nhưng A, B1 và G không dừng lại mà vẫn tiếp tục xông vào đánh. Đàm Thanh L1 bị các đối tượng đánh bỏ chạy ra cổng quán Karaoke Quốc V1 nhưng B1 và A vẫn đi đến chặn lại rồi dẫn L1 vào trong sân quán Q tiếp tục đánh. Hậu quả: Đàm Thanh L1 và Đặng Xuân T1 bị thương rồi ngất xỉu, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ1 từ ngày 12/10/2024 đến ngày 15/10/2024.

Tại bản Kết luận giám định số 166, 167 ngày 26/11/2024 Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh L1 là 04%, của anh T1 là 01%. (Các thương tích nêu trên không nguy hiểm cho tính mạng, các thương tích nêu trên do vật tày gây ra).

* Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ: 01 mũ cối, loại mũ cứng, được làm bằng nhựa cứng, kích thước vành mũ (30 x 26)cm; phía ngoài được bọc một lớp vải màu xanh, trên mũ có gắn hình ngôi sao; đỉnh mũ đã bị nứt, vỡ, kích thước (14 x 14)cm, chỉ còn lại lớp vải bên ngoài màu xanh đã bị rách, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bên thống nhất bị cáo Trịnh Công A bồi thường cho Đàm Thanh L1 và Đặng Xuân T1 mỗi người 4.000.000 đồng; các bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G bồi thường cho anh L1 3.000.000 đồng và anh T1 3.000.000 đồng. Các bên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự cố ý gây thương tích đối với các bị cáo.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSQT ngày 03 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố: bị cáo Trinh Công Al về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Công A;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Công A, Trịnh Văn B1, Trịnh Văn G phạm tội

“Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Công A từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025);

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn B1 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025);

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn G từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025);

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ cối

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xem xét tạo điều kiện cho các bị cáo được học tập, cải tạo, giáo dục tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xử vắng mặt và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

  2. [2] Tại phiên tòa, các bị cáo Trịnh Công A, Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên.

    Ngày 12/10/2024, tại quán Q thuộc thôn S, xã Q, huyện Q, do mâu thuẫn cá nhân trong quá trình hát Karaoke, bị cáo Trịnh Văn G đã có hành vi gây gỗ đánh anh Đặng Xuân T1. Mặc dù không bàn bạc từ trước nhưng khi thấy G đánh T1 thì Trịnh Công A và Trịnh Văn B1 xông vào đánh anh T1 và anh L1. Hậu quả gây thương tích cho anh Đàm Thanh L1 là 04% và gây thương tích cho anh Đặng Xuân T1 là 01%. Khi đánh nhau, các bị cáo đã có lời nói chửi bới, hò hét gây ồn ào, mất trật tự, làm náo loạn khu dân cư, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán Q. Trong đó, Trịnh Công A đã dùng mũ cối là hung khí nguy hiểm gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác và gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G không dùng công cụ, hung khí trực tiếp thực hiện hành vi đập phá hay phá phách nhưng cũng đã tham gia đánh nhau, gây rối, làm mất an ninh trật tự. Xét thấy, lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa và trong giai đoạn điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa.

    Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận, bị cáo Trịnh Công A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự

  3. [3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây bức xúc, bất bình trong nhân dân, phá vở sự ổn định của khu dân cư. Do vậy, cần quyết định một hình phạt tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả mà các bị cáo gây ra. Nhằm để răn đe, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng.
  4. [4] Xét tính đồng phạm, vị trí, vai trò của mỗi bị cáo thấy rằng: Vụ án có 3 bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, vị trí cụ thể từ trước mà chỉ mang tính bộc phát, nhất thời. Các bị cáo đã trực tiếp gây rối, đánh người. Vì vậy, phải bị xử lý nghiêm với hình phạt tương xứng, phù hợp.
  5. [5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. [6] Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trịnh Công A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự trong quân đội, bị cáo đã hai lần có hành động dũng cảm cứu người, bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Liên quan trong vụ án, khi bị G đánh, Đặng Xuân T1 đã có hành vi chống trả, đánh lại Giáp. Sau đó Trịnh Công A, Trịnh Văn G, Trịnh Văn B1 xông vào đánh T1, việc T1 đánh lại mang tính chất chống cự, phòng vệ nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT điều tra Công an huyện Q chuyển hồ sơ đến Công an huyện Q đề nghị xử lý vi phạm hành chính theo quy định. Đối với hành vi của Đàm Thanh L1 có hành vi dùng tay đánh lại Trịnh Văn B1 có tính chất can ngăn không nhằm mục đích gây rối nên không xem xét xử lý.

    Đối với hành vi của Trịnh Công A, Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G đánh Đàm Thanh L1 gây thương tích 04% và đánh anh Đặng Xuân T1 gây thương tích 01% do anh L1 và anh T1 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT điều tra Công an huyện Q chuyển hồ sơ đến Công an huyện Q đề nghị xem xét xử lý vi phạm hành chính.

  8. [8] Xét quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
  9. [9] Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo này đều có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo tại địa phương nên chưa cần thiết buộc phải cách ly ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục.
  10. [10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bên thống nhất bị cáo Trịnh Công A bồi thường cho Đàm Thanh L1 và Đặng Xuân T1 mỗi người 4.000.000 đồng; các bị cáo Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G bồi thường cho anh L1 3.000.000 đồng và anh T1 3.000.000 đồng. Anh Đàm Thanh L1 và Đặng Xuân T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự cố ý gây thương tích đối với các bị cáo. Các bên không ai có yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  11. [11] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 mũ cối, loại mũ cứng, được làm bằng nhựa cứng, kích thước vành mũ (30 x 26)cm; phía ngoài được bọc một lớp vải màu xanh, trên mũ có gắn hình ngôi sao; đỉnh mũ đã bị nứt, vỡ, kích thước (14 x 14)cm, chỉ còn lại lớp vải bên ngoài màu xanh đã bị rách, đã qua sử dụng
  12. [12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trịnh Công A, Trịnh Văn B1, Trịnh Văn G phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Công A;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Văn B1, Trịnh Văn G;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Công A, Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Trịnh Công A 30 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025).
    • Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
    • - Xử phạt bị cáo Trịnh Văn G 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025).
    • - Xử phạt bị cáo Trịnh Văn B1 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025).

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Giao các bị cáo Trịnh Công A, Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
  4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ cối

    Vật chứng, tài sản có tình trạng, đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 10/01/2025.

  5. Về án phí: Buộc các bị cáo Trịnh Công A, Trịnh Văn B1 và Trịnh Văn G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an huyện Quảng Trạch;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - THADS huyện Quảng Trạch;
  • - Bị cáo; NTGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Công A và đồng phạm gây rối
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger