Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 24-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Hà Văn Kha
  • Bà Ngô Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Hoàng N, sinh năm 1995. Tên gọi khác: không có.

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Bác sĩ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trương Văn N1, sinh năm 1972 và bà Hoàng Thanh H, sinh năm 1973; có vợ là Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1997 và 01 con;

Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại - (Có mặt).

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977 (đã chết).

Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • Bà Đỗ Thị N2, sinh năm 1948 – Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
  • Ông Ngô Văn M, sinh năm 1974 – Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội
  • Anh Ngô Quang L, sinh năm 2000 – Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn L, xã T, Tp ., tỉnh Bắc Giang
  • Anh Ngô Văn M1, sinh năm 1998– Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn L, xã T, Tp ., tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo ủy quyền của bà N2, ông M và anh L là anh Ngô Văn M1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn L, xã T, Tp ., tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Công ty TNHH T4. Địa chỉ: Lô S, đường H, xã S, Tp ., tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt.
  • Bà Hoàng Thanh H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang – Có mặt
  • Ông Trương Văn N1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Hoàng N, sinh năm 1995, trú tại: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; (nay là tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang) có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 12/9/2013.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 từ nhà đi theo đường Quốc lộ 31 hướng L - thành phố B để đến Trung tâm y tế huyện Y, tỉnh Bắc Giang làm việc. Khoảng 20 giờ 05 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô đi trên phần đường phải theo hướng đi của mình, với tốc độ khoảng 40 km/h đến Km số 10 + 490, Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cùng thời gian này, chị Nguyễn Thị Thủy S1 năm 1977, trú tại: thôn D, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội là công nhân Công ty TNHH T4 đi bộ, điều khiển xe nâng tay điện di chuyển phía trước cùng chiều với N. Do thiếu chú ý quan sát nên khi khoảng cách giữa N và chị T1 là khoảng 04m thì N mới phát hiện thấy chị T1 đang di chuyển phía trước, nên N đánh lái sang trái để tránh, vượt qua chị T1. Khi N điều khiển xe sang trái thì có một xe ô tô (Nam không rõ biển số và người điều khiển) di chuyển theo hướng ngược chiều đi đến nên N đánh lái sang phải để tránh xe ô tô. Quá trình tránh về bên phải bánh trước xe mô tô do N điều khiển đã va chạm với chân trái của chị T1 làm chị T1 ngã xuống đường, xe của N tiếp tục di chuyển về phía trước rồi va chạm với phần bên trái xe nâng tay điện do chị T1 điều khiển và đổ ra mặt đường, N ngã theo xe. Sau khi tai nạn xảy ra, N và chị T1 được người thân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên chị T1 được chuyển đến Bệnh viện H3 để điều trị. Đến ngày 07/10/2024, do thương tích nặng chị T1 tử vong.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra (Cơ quan điều tra) Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành xét nghiệm chất ma túy, kiểm tra nồng độ cồn đối với Trương Hoàng N. Kết quả xác định: Nồng độ cồn trong hơi thở của N là 0,000mg/l và âm tính với các chất ma túy.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 10 + 490, Quốc lộ C thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường xảy ra tai nạn được trải áp phan nhựa phẳng, thẳng, mặt đường rộng 1100cm, giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng đều nhau chia mặt đường thành hai phần đường cho hai dòng phương tiện di chuyển ngược chiều nhau cùng rộng 550cm; trên mỗi phần đường có vạch sơn màu trắng ngắt quãng đều nhau chia phần đường thành hai làn đường cho các phương tiện di chuyển cùng chiều.Phía Bắc hiện trường tiếp giáp cánh đồng; Phía Nam hiện trường tiếp giáp cánh đồng; Phía Đông của hiện trường là hướng đi huyện L; Phía Tây hiện trường là hướng đi quốc lộ A. Bên phải, bên trái hiện trường tính theo chiều đi của đường Quốc lộ 31 theo hướng L đi Quốc lộ A (theo hướng Đ - Tây). Lấy mép đường phải làm chuẩn. Lấy góc phía T chân cột mốc Km 10 + 500 trên hành lang đường trái, cách mép đường trái về phía Bắc 30cm làm điểm mốc.

Quá trình khám nghiệm hiện trường phát hiện các phương tiện, dấu vết liên quan đến vụ tai nạn được đánh số thứ tự từ (1) đến (6) cụ thể như sau:

  • Xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng T; tâm trục bánh trước cách mép đường phải 360cm, cách điểm mốc về phía Đông Nam 1600cm; tâm trục bánh sau cách mép đường phải 250cm. Ký hiệu là (1)
  • Xe nâng tay điện màu cam, hiệu “EQUPMENT” đổ tự nhiên trên mặt đường, đầu xe hướng Tây, dạng có 03 bánh, 01 bánh phía trước và 02 hai bánh phía sau; tâm trục bánh trước cách mép đường phải 250cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) về phía Tây 110cm; tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường phải 220cm. Ký hiệu là (2)
  • Dấu vết cày xước mặt đường nổi màu trắng đục, ngắt quãng không đều nhau chiều hướng Đông Bắc - T, kích thước (700 x 45) cm, vết đơn rộng nhất 02cm; đầu vết cách mép đường phải 240cm, cách tâm trục bánh sau bên phải xe nâng (2) về phía Đông Bắc 160cm, cuối vết kết thúc tại đầu tay nắm bên trái xe (1), cách mép đường phải 360cm. Ký hiệu là (3)
  • Dấu vết máu trên mặt đường kích thước (45 x 40) cm, tâm vết cách mép đường phải 40cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) về phía Nam 210cm. Ký hiệu là (4)
  • Dấu vết máu trên mặt đường, trên diện kích thước (90 x 40) cm, tâm vết cách mép đường phải 300cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) về phía Đông Bắc 370cm. Ký hiệu là (5)
  • Dấu vết mài trượt mặt đường, chiều hướng Đ - T liên tục trên mặt đường, kích thước (340 x 40) cm. T2 dấu vết cách mép đường phải 115cm, cách tâm trục bánh trước xe (2) về phía Đông Nam 150cm, cuối vết kết thúc tại vị trí vết máu số (4). Ký hiệu là (6)

Sau khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra tạm giữ, phương tiện, giấy tờ liên quan đến vụ tai nạn gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.8 và 01 xe nâng tay điện màu cam.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định các dấu vết liên quan đến vụ tai nạn:

  • - Kết quả khám nghiệm xe nâng tay điện, nhãn hiệu “EQUPMENT”: Mặt ngoài, mặt sau ốp kim loại sườn bên trái hệ thống máy có dấu vết mài sát kim loại, chiều hướng từ trước về sau, trên diện kích thước (25 x 16,5) cm. T2 vết cách đất 33,5 cm, điểm thấp nhất cách đất 15cm; Mặt ngoài thanh nâng bên trái bám dính vật chất màu trắng, bề mặt có dấu vết mài sát kim loại, bong tróc vật chất màu trắng hiện ánh kim, chiều hướng từ sau ra trước, kích thước (50 x 4) cm, tâm vết cách đất 5cm.
  • - Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89:
    • Má lốp bên phải bánh trước có dấu vết mài sát cao su hướng vào tâm, trên diện kích thước (40 x 10) cm. T2 vết cách chân van ngược chiều chuyển động tiến 48cm. Cạnh ngoài góc dưới giảm sóc bên phải bánh trước có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu trắng, kích thước (1,5 x 0,5) cm.
    • Cạnh bên phải giá kim loại bảo vệ cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết mài sát kim loại chiều hướng từ trước về sau, tâm vết cách đất 43cm; Ốp nhựa phía trước đầu xe có dấu vết gãy vỡ, bề mặt có dấu vết mài sát sơn, kim loại, chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, kích thước (40 x 15) cm.
    • Mặt ngoài cánh yếm bên phải có dấu vết mài sát sơn nhựa, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (15,5 x 180) cm, tâm vết cách đất 60cm; Giá kim loại bảo vệ sườn xe bên phải có dấu vết bẹp, lõm, mài sát kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (44,5 x 1,5) cm, tâm vết cách đất 33,5cm.
    • Ốp nhựa gắn cố định để chân sau bên phải bị gãy vỡ, để chân sau bên phải bị chùn cong, chiều hướng từ phải sang trái, bề mặt có dấu vết mài sát nhựa, bẹp lõm kim loại, kích thước (22 x 12,5) cm, tâm vết cách đất 41,5cm; Ốp nhựa bên phải dưới bàn để chân trước có dấu vết mài sát sơn nhựa, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (16,5 x 3,5) cm tâm vết cách đất 26cm; Ốp nhựa bảo vệ ống xả và đầu bu lông gắn cố định ốp nhựa có dấu vết mài sát nhựa, kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (20,5 x 3) cm, tâm vết cách đất 30cm.
    • Mặt dưới, cạnh ngoài bên phải chân chống giữa có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (3 x 2,5) cm, tâm vết cách đất 10cm; Gương chiếu hậu bên trái lệch khỏi vị trí cố định về phía sau, mặt trước cần gương có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (3 x 0,5) cm; Mặt trước đầu tay phanh bên trái có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (1,5 x 1) cm; Mặt trước đầu tay nắm trái có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (1,5 x 0,8) cm.
    • Góc trước bên trái giá kim loại bảo vệ cung chắn bùn bánh trước có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (4 x 1) cm. Giá kim loại bảo vệ sườn xe bên trái, để chân sau bên trái và ốp nhựa để chân sau bên trái, cạnh ngoài bên trái chân chống có dấu vết mài sát kim loại, bám dính tạp chất mà trắng, kích thước (145 x 20) cm.

* Kết quả khám nghiệm tử thi nạn nhân Nguyễn Thị T1:

Trên cơ thể nạn nhân Nguyễn Thị T1 có các tổn thương sưng nề, sây sát, bầm tím da tập trung rải rác ở nhiều vùng khác nhau; Thăm dò khoang ổ bụng bằng bơm kim tiêm kiểm tra không thấy có máu; Kiểm tra khoang lồng ngực bên trong thấy các xương sườn không gãy; Phim chụp cắt lớp vi tính sọ não: Máu tụ dưới màng cứng vùng thái dương trái, dập não bán cầu trái, phù não lan tỏa.

Tại bản kết luận giám định số 2297/KLGĐTT-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: “Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị T1 do chấn thương sọ não: Máu tụ dưới màng cứng vùng thái dương trái, dập não bán cầu trái”.

Tại kết luận giám định số 2425/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

  1. Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen và màu xám, hướng từ sau ra trước ở mặt ngoài thanh kim loại cố định cần nâng bên trái với hệ thống điều khiển của xe nâng tay điện màu cam (ảnh 6,7,8,9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết hằn lõm kim loại, nứt vỡ nhựa, hướng từ trước ra sau ở để chân sau bên phải và ốp sườn của xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 (ảnh 20,21,22,23 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  2. Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, hướng từ mặt lăn vào tâm trục, ngược chiều chuyển động tiến ở bên phải má lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 183.89 (ảnh 7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt, bám dính chất màu đen ở mặt sau cẳng chân bên trái của nạn nhân Nguyễn Thị T1 (ảnh 21,22 bản ảnh khám nghiệm tử thi).
  3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 với xe nâng tay điện màu cam và nạn nhân Nguyễn Thị T1 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng huyện L đi Quốc lộ A.
  4. Không xác định được tốc độ của phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 111 ngày 30/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: “ Tổng giá trị các phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 183.89 do tai nạn giao thông gây ra, tại thời điểm ngày 06/10/2024 là 450.000 đồng”.

Quá trình điều tra xác định, Trương Hoàng N có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 tham giao nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế đã vi phạm quy định Khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ (được hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 4, Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông làm chị Nguyễn Thị T1 chết.

Quá trình điều tra, bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 13 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trương Hoàng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác định các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên những lời khai này. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 330.000.000đ, việc bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thanh H và ông Trương Văn N1 có mặt tại phiên tòa, ông bà đều giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra và không có yêu cầu về dân sự.

Người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người này tại Cơ quan điều tra, bị cáo nhất trí không có ý kiến gì về lời khai của họ.

Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi, tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo N, đồng thời đã phân tích tính chất vụ án, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Hoàng N từ 01 năm 03 tháng – 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30- 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N cho UBND phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét giải quyết. Về vật chứng: Không có nên không đề nghị xem xét. Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo Trương Hoàng N phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo trình bày, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà (tuy nhiên những người này đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. Xem xét về hành vi phạm tội của bị cáo:
    Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khẳng định những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đã có đầy đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 05 phút ngày 06/10/2024, tại Km số 10 + 490, Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trương Hoàng N (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 đi hướng hướng L - thành phố B nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế (Vi phạm vào khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ và và quy định tại Khoản 3 Điều 4, Khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) dẫn đến bánh trước xe mô tô của N điều khiển đâm vào chân trái của chị Nguyễn Thị T1 đang đi bộ điều khiển xe nâng tay điện đi phía trước cùng chiều. Hậu quả, làm chị T1 ngã xuống đường bị thương tích và chết.
    Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo tham gia giao thông chuyển hướng nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế (Vi phạm vào khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ và và quy định tại Khoản 3 Điều 4, Khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) dẫn đến bánh trước xe mô tô của N điều khiển đâm vào chân trái của chị Nguyễn Thị T1 đang đi bộ điều khiển xe nâng tay điện đi phía trước cùng chiều. Hậu quả, làm chị T1 ngã xuống đường bị thương tích và chết. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo K về tội danh và điều khoản như trên hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
    Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
  4. Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ là ông Trương Văn N1 là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất và hạng nhì; Huân chương quân kỳ quyết thắng, có mẹ là bà Hoàng Thanh H được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, có ông bà ngoại, ông nội là người có công với cách mạng (ông ngoại là Hoàng Minh H2, bà ngoại Trần Thị V và ông nội Trương Xuân T3 đều được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3) nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân để xảy ra tai nạn phần lớn do lỗi của bị cáo thiếu chú ý quan sát, tuy nhiên người bị hại cũng có một phần lỗi khi chưa được đào tạo cấp chứng chỉ vận hành xe nâng nhưng lại điều khiển xe nâng tay điện là thiết bị máy móc dùng để nâng hạ, di chuyển hàng hóa trong nhà xưởng, kho bãi, đường nội bộ chưa đủ điều kiện vào tham gia giao thông, người bị hại di chuyển xe nâng trên đoạn đường giao thông không có đèn đường tầm nhìn bị hạn chế trong khi đó xe nâng không có đèn chiếu sáng, cũng là nguyên nhân dẫn đến va chạm giao thông. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, bản thân bị cáo công tác trong ngành y tế, công việc chính là cứu chữa bệnh nhân, chỉ vì vô ý do cẩu thả nên mới để xảy ra tai nạn, bị cáo không mong muốn điều đó xảy ra. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, ăn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật, Hội đồng xét xử thấy không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ giúp răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật theo như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo tự nguyện thăm hỏi và bồi thường cho gia đình bị hại 330.000.000 đồng. Đến nay, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, các bên đã thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  6. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 183.89 là tài sản hợp pháp của bà Hoàng Thanh H (mẹ của N), bà H cho N mượn để làm phương tiện đi làm; xe nâng tay điện, nhãn hiệu “EQUPMENT” là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cho bà H và trả lại xe nâng tay điện cho người đại diện ủy quyền của Công ty là ông Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1975, trú tại: tổ B, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang); bà H và anh H1 không yêu cầu về dân sự. Xét thấy việc trả lại vật chứng của cơ quan cảnh sát điều tra là phù hợp, đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét.
  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Xử phạt bị cáo Trương Hoàng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/01/2025).

Giao bị cáo Trương Hoàng N cho Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

- Về án phí: Buộc bị cáo Trương Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

  • Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Công an huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thiêm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đồng Văn Diện + Trần Thành Đô

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thiêm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Văn La + Ngô Thị Mai

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger