|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 23-01-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh
2. Ông Nguyễn Văn Tòng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh và ông Lâm Ngọc A - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đinh Tuấn A1 - Sinh ngày 30/7/1987, tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Đinh Xuân T (đã chết); con bà: Lê Thị H, sinh năm 1966; có vợ là: Ngô Thị S, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 07/9/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về cướp tài sản.
- Ngày 24/6/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội cưỡng đoạt tài sản).
- Ngày 02/8/2023, bị Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N cho đến nay. (có mặt)
2. Lê Huy T1 - Sinh ngày 23/5/1985, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Lê Huy C, sinh năm 1948; con bà: Lường Thị H1, sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990; có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020;
Tiền án: (02)
- Ngày 25/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản;
- Ngày 13/4/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài theo bản án số 46/2020/HSST.
Tiền sự: (01) - Ngày 25/9/2021, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
Nhân thân:
- Ngày 07/01/2013, bị Công an huyện T (nay là thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 21/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã N) xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N cho đến nay. (có mặt)
3. Đỗ Viết M - Sinh ngày 01/6/1958, tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Đỗ Viết G (đã chết); con bà: Lê Thị R (đã chết); có vợ là: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1960; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 21/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N cho đến nay. (có mặt)
4. Lê Văn T3 - Sinh ngày 06/5/1993, tại thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Q, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số số căn cước công dân: [...]; con ông: Lê Văn O, sinh năm 1972; con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N cho đến nay. (có mặt)
5. Nguyễn Xuân T4 - Sinh ngày 28/12/1991, tại thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Nguyễn Xuân T5 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958; vợ: Trần Thị P, sinh năm 1996; chưa có con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N cho đến nay. (có mặt)
6. Trần Văn T6 - Sinh ngày 06/4/1988, tại xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Trần Văn Đ1, sinh năm 1957; con bà: Ngô Thị B, sinh năm 1957; vợ: Phạm Thị Y, sinh năm 1989, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N cho đến nay. (có mặt)
* Người làm chứng:
- Bà Lê Thị H – sinh năm 1966; Nơi cư trú: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Anh Đinh Hoàng L1 – sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H2 - Sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 20 phút ngày 20/9/2024, Tổ công tác Công an thị xã N tuần tra đảm bảo án ninh trật tự tại tổ dân phố S, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lê Huy T1 (sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố X, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 36BK-018.49 không có gương chiếu hậu nên đã dừng phương tiện để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong túi quần bên trái T1 đang mặc có 01 bơm kim tiêm loại 3ml/cc bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Khai thác tại chỗ, T1 khai nhận chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn bên trong ống tiêm là ma túy, loại Heroine T7 mang theo người với mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Huy T1, thu giữ, niêm phong chiếc bơm kim tiêm chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn trên trong phong bì ký hiệu T1; thu giữ xe mô tô và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của T1 để phục vụ công tác điều tra.
Kết luận giám định số 3459/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì
niêm phong ký hiệu T1 (tạm giữ trong quá trình bắt quả tang Lê Huy T1) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,116g loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy, Lê Huy T1 khai vào sáng ngày 20/9/2024, T1 gọi điện thoại cho Đinh Tuấn A1 (sinh năm 1987, trú tại tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa), hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy, loại Heroine, Tuấn A1 đồng ý và hẹn T1 đến khu vực ngã ba C thuộc thị trấn N, huyện N để giao dịch mua bán ma túy. Sau khi thỏa thuận, T1 đi xe mô tô đến điểm hẹn, tại đây T1 đưa cho Tuấn A1 1.000.000 đồng và được Tuấn A1 đưa cho 01 gói ma túy bọc bên ngoài bằng lớp ni lông màu đen, bê trong là lớp giấy màu trắng. Trên đường về, T1 vào hiệu thuốc ở khu vực Chợ K, phường H, thị xã N mua một bơm kim tiêm, sau đó đổ ma túy (H3) trong gói giấy vào xi lanh bỏ vào túi quần bên trái rồi tiếp tục điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi T1 đi đến tổ dân phố S, phường N, thị xã N, thì bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Cùng ngày vào hồi 15 giờ 00 phút, tại thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Công an thị xã N còn phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn T6 (sinh năm 1988, trú tại thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên tay trái của T6 có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (T6 khai nhận là Heroine), niêm phong số ma túy trong phong bì ký hiệu H1; thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 36C1-304.06 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C51 của T6 để phục vụ công tác điều tra.
Kết luận giám định số 3458/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu H1 (thu giữ trong quá trình bắt quả tang Trần Văn T6) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,199g loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy, Trần Văn T6 khai trước đó vào sáng ngày 20/9/2024, T6 đã đến nhà Đỗ Viết M (sinh năm 1958) ở thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mua của M gói ma túy trên với giá 1.000.000 đồng. Chiếc xe mô tô T8 bị thu giữ khi bắt quả tang là xe T6 mượn bố là ông Trần Văn Đ1.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Viết M, Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm phong gồm: 01 túi ni lông màu đen (ký hiệu H2); 01 con dao tem, bề mặt dao có in chữ CROMA (ký hiệu H3); 02 mảnh giấy màu trắng loại có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà (ký hiệu H4); 01 tờ giấy màu trắng loại có dòng kẻ bị cắt góc; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng có cán nhựa màu đen; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A03 và số tiền 1.300.000 đồng để phục vụ công tác điều tra.
Kết luận giám định số 3537/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên mảnh ni lông màu đen của phong bì niêm phong ký hiệu H2 gửi giám định. Tìm thấy
chất ma túy, loại Heroine bám dính trên dao tem, bề mặt dao tem có in dòng chữ CROMA của phong bì niêm phong ký hiệu H3 gửi giám định; không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính. Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu H4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,580g, loại Heroine.
Đến ngày 21/9/2024, Đỗ Viết M đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận đã bán cho Trần Văn T6 01 gói ma túy, loại Heroine và cất giấu trong người và tại nơi ở 04 gói ma túy nhằm mục đích để bán (số ma túy này sau đó đã bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp). Về nguồn gốc ma túy, M khai nhận trước đó vào ngày 20/9/2024, tại khu vực cầu khe ngang thuộc xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, M đã mua Đinh Tuấn A1 02 gói ma túy, loại Heroine với giá 2.000.000 đồng, tiếp đó đến ngày 21/9/2024, cũng tại địa điểm trên M còn mua của Tuấn A1 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 1.000.000 đồng. Đối với 02 gói ma túy mua ngày 20/9/2024, M cất 01 gói vào túi quần đang mặc, gói còn lại M chia làm 02 phần, một phần bán cho T6, phần còn lại M sử dụng; đối với gói ma túy mua ngày 21/9/2024, M lấy một ít sử dụng, số còn lại M chia làm 03 gói, với mục đích để bán. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã tiến hành khám xét khẩn cấp, thu giữ toàn bộ số ma túy này.
Khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Đinh Tuấn A1 ở tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nơi ở của Tuấn A1 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa các cục chất bột màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu TA1); 01 cân tiểu ly điện tử kích thước (3,5x7)cm bề mặt bám dính chốt bột màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu TA2); 01 mảnh giấy trên bề mặt bám dính chất bột màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu TA2); 03 mảnh dao lam bề mặt bám dính chất bột màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu TA2); 01 cuộn băng dính màu đen; 01 túi ni lông màu đen và số tiền 62.200.000 đồng; Thu giữ trên người: 01 túi ni lông màu trắng được cuộn lại bằng dây chun màu xanh bên trong có 02 túi ni lông màu đen bên trong cả hai 02 túi có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (niêm phong ký hiệu A3); 01 điện thoại và số tiền 12.167.000 đồng.
Kết luận giám định số 3538/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu TA1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,800g loại Heroine. Chất bột màu trắng ngà bám dính trên bề mặt cân tiểu ly điện tử kích thước (3,5x7)cm của phong bì niêm phong ký hiệu TA2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; không xác định được khối lượng ma túy. Chất bột màu trắng ngà bám dính trên bề mặt mảnh giấy của phong bì niêm phong ký hiệu TA2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; không xác định được khối lượng chất ma túy. Chất bột màu trắng ngà bám dính trên bề mặt 03 mảnh dao lam của phong bì niêm phong ký hiệu TA2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; không xác định được khối lượng ma túy. Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của
phong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,639g, loại Heroine.
Toàn bộ số ma túy thu giữ trên, Đinh Tuấn A1 khai nhận bản thân tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời. Quá trình điều tra, Tuấn Al thừa nhận vào các ngày 20 và 21/9/2024, Tuấn A1 đã bán ma túy cho Lê Huy T1 và Đỗ Viết M như đã nêu trên. Ngoài ra, cũng trong ngày 21/9/2024, tại khu vực nhà nghỉ Đ2 thuộc thị trấn N, huyện N, Tuấn Al còn bán 02 gói ma túy với giá 1.500.000 đồng cho Nguyễn Xuân T4 (sinh năm 1991, trú tại khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) và bán cho Lê Văn T3 (sinh năm 1993, trú tại thôn Q, xã Y, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) 02 gói ma túy loại Heroine với giá 1.500.000 đồng tại khu vực nhà máy N thuộc thị trấn N, huyện N.
Về nguồn gốc ma túy, Đinh Tuấn A1 khai vào khoảng đầu tháng 9 năm 2024, do có nhu cầu mua ma túy về bán để kiếm lời nên Tuấn A1 đi đến khu vực cầu N, thành phố T mua của 01 người đàn ông không quen biết 02 cục ma túy, loại Heroine với giá 6.000.000 đồng mang về nhà dùng dao lam phân chia 02 cục ma túy và gói thành các gói nhỏ. Sau đó vào các ngày 20, 21/9/2024, khi có Lê Huy T1, Đỗ Viết M, Nguyễn Xuân T4, Lê Văn T3 gọi điện hỏi mua ma túy, thì Tuấn A1 đồng ý. Sau khi thỏa thuận giá cả và địa điểm giao dịch, Tuấn Al mượn xe mô tô BKS 36B4-428.17 của anh Lương Văn T9 (sinh năm 1957, trú tại thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) để đi giao ma túy cho các đối tượng trên.
Ngày 21/9/2024, Nguyễn Xuân T4 đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú và giao nộp 01 gói giấy ô ly có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn; 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn; 01 gói nilông màu đen bên ngoài là lớp băng dính màu đen, bên trong là lớp giấy ô ly có dòng kẻ, bên trong lớp giấy là chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (tất cả được niêm phong ký hiệu A1) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 màu đen.
Tại Cơ quan điều tra, T4 khai sau khi mua được ma túy từ Đinh Tuấn A1, T4 mang về nhà, lấy ra một gói chia và gói thành 02 gói nhỏ, rồi cất giấu cùng với với gói ma túy còn lại tại nhà, nhằm mục đích để bán cho người có nhu cầu, kiếm lời.
Cùng ngày, Lê Văn T3 cũng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú và giao nộp 02 gói ni lông màu đen mỗi gói ni lông đều được quấn một lớp băng dính đen bên trong đều chứa một gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn; 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (tất cả được niêm phong ký hiệu V1) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, màu hồng.
Tại Cơ quan điều tra, T3 khai sau khi mua ma túy từ Đinh Tuấn A1, T3 lấy một ít ra sử dụng, phần còn lại T3 chia làm 03 gói nhỏ với mục đích bán cho người có nhu cầu để kiếm lời.
Ngoài ra, cũng trong quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T4 và Lê Văn T3 còn khai nhận đã bán ma túy cho một số đối tượng khác, tuy nhiên T4 và T3 không quen biết và không nhớ thời gian, địa điểm bán ma túy, trong đó vào ngày 21/9/2024, có đối tượng xưng tên là L1 ở thị xã N hỏi T3 mua 01 gói ma túy loại Heroine, T3 đồng ý, sau đó người này chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng của T3 1.000.000 đồng, nhưng T3 chưa giao ma túy cho người này.
Kết luận giám định số 3536/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu A1 (thu giữ trong quá trình tiếp nhận Nguyễn Xuân T4 ra đầu thú) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,420g loại Heroine.
Kết luận giám định số 3539/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu V1 (tạm giữ trong quá trình tiếp nhận Lê Văn T3 ra đầu thú) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,618g, loại Heroine.
Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKSNS ngày 31/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đinh Tuấn A1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Lê Huy T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Đỗ Viết M, Lê Văn T3 và Nguyễn Xuân T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Trần Văn T6 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn rút quyết định truy tố điểm c khoản 2 Điều 251 đối với bị cáo Đinh Tuấn A1, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo còn lại và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: Điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Đinh Tuấn A1 từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù.
Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Lê Huy T1 từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Đỗ Viết M từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Lê Văn T3 từ 33 tháng đến 36 tháng tù; Bị cáo Nguyễn Xuân T4 từ 45 tháng đến 48 tháng tù.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt: Bị cáo Trần Văn T6 từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015 và Điều 106 BLTTHS 2015 quy định về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ vỏ phong bì niêm phong và số ma túy còn lại sau giám định; 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc; 01 mảnh ni lông màu đen của phong bì ký hiệu H2; 01 dao tem, bề mặt dao tem có in dòng chữ CROMA của phong bì ký hiệu H3; 01 tờ giấy màu trắng loại có dòng kẻ bị cắt góc; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng, có cán nhựa màu đen; 01 cân tiểu li điện tử kích thước khoảng (3,5x7)cm; 01 mảnh giấy; 03 mảnh dao lam; 01 cuộn băng dính màu đen và 01 mảnh túi ni lông màu đen.
Tịch thu, bán sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đồng có gắn sim điện thoại; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám đen cam biển số 36BK-018.49 không có gương chiếu hậu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C51 có gắn sim điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, màu hồng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03; 01 điện thoại di động Nokia 105, màu xanh.
Tịch thu của bị cáo A1 7.000.000đ và của bị cáo M 1.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Truy thu của bị cáo T3 1.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo A1 5.167.000đ và trả lại cho bị cáo M 300.000đ.
Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho Đỗ Viết M. Buộc 05 bị cáo còn lại mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, sáu bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận lại quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, nên trong các ngày 20 và 21/9/2024, Đinh Tuấn A1 đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho nhiều người khác nhau để thu lợi bất chính. Cụ thể:
Ngày 20/9/2024, tại khu vực ngã ba C thuộc thị trấn N, huyện N, Đinh Tuấn A1 đã bán trái phép cho Lê Huy T1 01 gói ma túy (H) với giá 1.000.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, trên đường T đem ma túy đi tìm nơi sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy (kết quả giám định là Heroine, có khối lượng là 0,116g).
Ngày 20/9/2024, tại khu vực cầu khe ngang thuộc xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Đinh Tuấn A1 tiếp tục bán trái phép cho Đỗ Viết M 02 gói ma túy (H) với giá 2.000.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, M cất giấu một gói trong túi quần, gói còn lại M lấy một ít sử dụng, phần còn lại M bán cho Trần Văn T6 với giá 1.000.000 đồng. Trên đường T đem ma túy về đến thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, thì bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ gói ma túy (kết quả giám định xác định khối lượng gói ma túy T6 mua là 0,199g Heroine).
Ngày 21/9/2024, cũng tại khu vực cầu khe ngang thuộc xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Đinh Tuấn A1 còn bán trái phép cho Đỗ Viết M 01 gói ma túy (H) với giá 1.000.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, M lấy ra một ít sử dụng, số còn lại M chia thành 03 thành 03 gói nhỏ, mục đích để bán kiếm lời. Số ma túy này cùng với gói ma túy M cất giấu trong túi quần đã bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của M (kết quả giám định là H3, có khối lượng là 0,580 gam).
Cũng trong ngày 21/9/2024, tại khu vực nhà nghỉ Đ2 thuộc thị trấn N, huyện N, Đinh Tuấn A1 còn bán trái phép 02 gói ma túy (Heroine) cho Nguyễn Xuân T4 với giá 1.500.000 đồng và bán cho Lê Văn T3 01 gói ma túy (H) với giá 1.500.000 đồng tại khu vực nhà máy N thuộc thị trấn N, huyện N, huyện N, Thanh Hóa.
Sau khi mua được ma túy, T4 mang về nhà, lấy ra một gói chia và gói thành 02 gói nhỏ, rồi cất giấu cùng với với gói ma túy còn lại tại nhà, nhằm mục đích để bán kiếm lời; số ma túy này T4 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra khi ra đầu thú (kết quả giám định là Heroine, có khối lượng là 1,420g). Về phần Lê Văn T3 sau khi mua được gói ma túy, T3 đã lấy một ít ra sử dụng, phần còn lại T3 chia và gói thành 03 gói nhỏ, mục đích để bán kiếm lời. Số ma túy này, T3 cũng đã giao nộp cho Cơ quan điều tra khi ra đầu thú (kết quả giám định là Heroine, có khối lượng là 0,618g).
Ngoài các lần bán trái phép chất ma túy nêu trên, thì Đinh Tuấn Al còn tàng trữ tại nơi ở của mình ở khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 5,439g Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời.
Như vậy, Đinh Tuấn A1 đã 05 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho 04 người khác nhau, với tổng khối lượng ma túy là 2,933g Heroine và tàng trữ trái phép nhằm mục đích để bán 5,439g Heroine. Tổng khối lượng ma
túy mà Tuấn Al phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy được xác định là 8,372g Heroine.
Đỗ Viết M đã 01 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,199g Heroine và tàng trữ nhằm mục đích để bán 0,580g Heroine. Tổng khối lượng ma túy M phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,779g Heroine. Nguyễn Xuân T4 có hành vi tàng trữ trái phép nhằm mục đích để bán 1,420g Heroine và Lê Văn T3 có hành vi tàng trữ trái phép nhằm mục đích để bán 0,618g Heroine.
Lê Huy T1 có hành vi tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng 0,116g Heroine và Trần Văn T6 có hành vi tàng trữ trái phép nhằm mục đích sử dụng 0,199g Heroine. Mặc dù khối lượng ma túy T1 tàng trữ dưới 05g H, nhưng T1 là đối tượng đã tái phạm, nên lần phạm tội này của T1 thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai người làm chứng. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Hành vi của Đinh Tuấn A1 đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Đỗ Viết M, Lê Văn T3 và Nguyễn Xuân T4 đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Lê Huy T1 đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Hành vi của Trần Văn T6 đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về người bán ma túy cho Đinh Tuấn A1, do Al khai không quen biết, không rõ danh tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Đối với anh Lương Văn T9, là chủ phương tiện xe mô tô BKS 36B4-428.17, ông Trần Văn Đ1 là chủ phương tiện xe mô tô BKS 36C1-304.06, quá trình điều tra xác định anh T9 không biết Đinh Tuấn A1 mượn xe mô tô để đi bán ma túy và ông Đ1 không biết Trần Văn T6 mượn xe đi mua ma túy, vì vậy anh T9, ông Đ1 không có lỗi.
Đối với người xưng tên L1 đã chuyển tiền mua ma túy cho T3, quá trình điều tra xác định là Nguyễn Quang L2 (sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố S, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa). Tuy nhiên, anh L2 không thừa nhận hành vi mua ma túy từ T3 và ngoài lời khai của T3 thì không có tài liệu khác nên không có căn cứ xác định L2 phạm tội.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, quá trình điều tra còn xác định Lê Huy T1, Trần Văn T6, Nguyễn Xuân T4, Lê Văn T3, Đỗ Viết M, Đinh Tuấn A1 còn
có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra T1, T6, Tuấn A1 còn có hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công an thị xã N xử phạt hành chính theo thẩm quyền.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng:
Hiện nay trên địa bàn thị xã N nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của các bị cáo làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho mỗi bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
- Về tiền án, tiền sự: Đối với bị cáo T1 có 02 tiền án là: Ngày 25/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và ngày 13/4/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Đây là tình tiết định khung hình phạt. Ngoài ra bị cáo T1 còn có 01 Tiền sự là ngày 25/9/2021, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về nhân thân:
- Đối với Đinh Tuấn A1: Ngày 07/9/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về cướp tài sản. Ngày 24/6/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 18 tháng tù về tội cưỡng đoạt tài sản và ngày 02/8/2023 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
- Đối với Lê Huy T1: Ngày 07/01/2013, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và ngày 21/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Đỗ Viết M: Ngày 21/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Về tình tiết tăng nặng: Cả 06 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Cả 06 bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Riêng Lê Văn T3 và Nguyễn Xuân T4 ra đầu thú, Lê Huy T1 có bố đẻ là ông Lê Huy C là người có công với cách mạng (Thương binh) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả sáu bị cáo.
[6] Xét về vật chứng:
- Đối với 7,629 gam Heroine (là mẫu vật còn lại sau giám định), hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2025/28 ngày 13/01/2025, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng, nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc; 01 mảnh ni lông màu đen; 01 dao tem, bề mặt dao tem có in dòng chữ CROMA; 01 tờ giấy màu trắng loại có dòng kẻ bị cắt ; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng, có cán nhựa màu đen; 01 cân tiểu li điện tử kích thước khoảng (3,5x7)cm; 01 mảnh giấy; 03 mảnh dao lam; 01 cuộn băng dính màu đen và 01 mảnh mảnh túi ni lông màu đen. hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2025/28 ngày 13/01/2025. Đây là những vật liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng. nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
- Đối với:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đồng có số Imeil: 869511063492652, số Imei2: 869511063492645 bên trong có lắp sim in dãy số 89840200011478108523 tương ứng với số điện thoại 0836.955.xxx và sim in dãy số 8984048000933902196 tương ứng với số điện thoại 0986.726.xxx.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C51, số Imei 1: 863320064103557, số Imei 2: 863320064103540 được gắn số thuê bao di động 0965173098.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 màu đen, số Imeil: 865858060951378, số Imei2: 865858060951360 bên trong có lắp sim in dãy số 8984048000928694178 tương ứng với số điện thoại 0325.525.xxx.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, màu hồng, tên kiểu thiết bị: SM-A045F/DS, số sê ri: R92W80J4EQV, số IMEI (khe 1): 353503966002525, số IMEI (khe 2): 354811676002522 được gắn sim điện thoại số 0974.586.xxx và sim điện thoại 0335.160.xxx.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, Imei 1: 351027678614072, Imei2: 351263208614072, lắp sim in dãy số 8984048000904910838 tương ứng với số điện thoại 0867.464.xxx và sim in dãy số 8984048000919100332 tương ứng với số điện thoại 0392.172.xxx.
- 01 điện thoại di động Nokia 105, màu xanh, số seria 1: 357723107528610, số seria 2: 357723107528628, bên trong lắp sim số 0917.582.298.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám đen cam biển số 36BK-018.49, số khung RLCUG1010LY296451, số máy G3D4E1067485, dung tích 149,8cm³, không có gương chiếu hậu.
Hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2025/28 ngày 13/01/2025, Các điện thoại trên và chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của các bị cáo, các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
+ Đối với 12.167.000đ thu giữ của Đinh Tuấn A1 và 1.300.000đ thu giữ của Đỗ Viết M, hiện đang được quy trữ tại kho bạc Nghi Sơn theo biên bản giao nhận tài sản số 36/2024/BBBG-KBNS ngày 09/12/2024. Trong đó 7.000.000 của bị cáo Al và 1.000.000₫ của bị cáo M có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Số tiền còn lại 5.167.000đ của bị cáo A1 và 300.000đ của bị cáo M, là số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó cần phải căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại số tiền trên cho bị cáo A1 và Bị cáo M.
+ Đối với số tiền 1.000.000₫ T3 bán ma túy cho L1 vào ngày 21/9/2024. Số tiền này bị cáo T3 có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS để truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
+ Đối với số tiền 62.200.000 đồng thu giữ tại nơi ở của Đinh Tuấn A1, quá trình điều tra xác định đây là tiền của bà Lê Thị H (mẹ đẻ của Tuấn A1) không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H theo quy định của pháp luật. Do đó hội đồng xét xử miễn xét.
+ Đối với chiếc xe mô tô BKS 36C1-304.06 và xe mô tô BKS 36B4-428.17, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Văn Đ1 và anh Lương Văn T9 theo quy định. Do đó hội đồng xét xử miễn xét.
[7] Xét về án phí:
Bị cáo Đỗ Viết M là người cao tuổi nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Năm bị cáo còn lại phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố:
- - Đinh Tuấn A1, Đỗ Viết M, Lê Văn T3 và Nguyễn Xuân T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Lê Huy T1 và Trần Văn T6 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đinh Tuấn A1 10 (M1) năm tù. Hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
-
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Huy T1 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 20/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đỗ Viết M 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Xuân T4 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
- Xử phạt: Lê Văn T3 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Trần Văn T6 12 (Mười hai) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 20/9/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 7,629 gam Heroine (là mẫu vật còn lại sau giám định), 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc; 01 mảnh ni lông màu đen; 01 dao tem, bề mặt dao tem có in dòng chữ CROMA; 01 tờ giấy màu trắng loại có dòng kẻ bị cắt ; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng, có cán nhựa màu đen; 01 cân tiểu li điện tử kích thước khoảng (3,5x7)cm; 01 mảnh giấy; 03 mảnh dao lam; 01 cuộn băng dính màu đen và 01 mảnh mảnh túi ni lông màu đen. hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2025/28 ngày 13/01/2025.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đồng có số Imeil: 869511063492652, số Imei2: 869511063492645 bên trong có lắp sim in dãy số 89840200011478108523 tương ứng với số điện thoại 0836.955.xxx và sim in dãy số 8984048000933902196 tương ứng với số điện thoại 0986.726.xxx.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C51, số Imei 1: 863320064103557, số Imei 2: 863320064103540 được gắn số thuê bao di động 0965173098.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 màu đen, số Imeil: 865858060951378, số Imei2: 865858060951360 bên trong có lắp sim in dãy số 8984048000928694178 tương ứng với số điện thoại 0325.525.xxx.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, màu hồng, tên kiểu thiết bị: SM-A045F/DS, số sê ri: R92W80J4EQV, số IMEI (khe 1): 353503966002525, số IMEI (khe 2): 354811676002522 được gắn sim điện thoại số 0974.586.xxx và sim điện thoại 0335.160.xxx.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, Imei 1: 351027678614072, Imei2: 351263208614072, lắp sim in dãy số 8984048000904910838 tương ứng với số điện thoại 0867.464.xxx và sim in dãy số 8984048000919100332 tương ứng với số điện thoại 0392.172.xxx.
- + 01 điện thoại di động Nokia 105, màu xanh, số seria 1: 357723107528610, số seria 2: 357723107528628, bên trong lắp sim số 0917.582.298.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám đen cam biển số 36BK-018.49, số khung RLCUG1010LY296451, số máy G3D4E1067485, dung tích 149,8cm³, không có gương chiếu hậu.
Hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2025/28 ngày 13/01/2025.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 7.000.000đ thu giữ của Đinh Tuấn A1 và 1.000.000đ thu giữ của Đỗ Viết M, hiện đang được quy trữ tại kho bạc Nghi Sơn theo biên bản giao nhận tài sản số 36/2024/BBBG-KBNS ngày 09/12/2024.
- Truy thu của bị cáo Lê Văn T3 1.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Đinh Tuấn A1 5.167.000đ và trả lại cho bị cáo Đỗ Viết M 300.000đ, số tiền này hiện đang được quy trữ tại kho bạc N1 theo biên bản giao nhận tài sản số 36/2024/BBBG-KBNS ngày 09/12/2024.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Đỗ Viết M. Buộc Đinh Tuấn A1, Lê Văn T3, Nguyễn Xuân T4, Lê Huy T1 và Trần Văn T6 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt sáu bị cáo. Sáu bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bắc |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Mai Đức Danh | Nguyễn Văn Tòng | Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh TUấn Anh, Đỗ Viết Minh, Lê Văn TIến và Nguyễn Xuân THuận thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Lê Huy TÚ và Trần Văn Thành thwch hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy
