Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23 tháng 01 năm 2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Hồng.
  2. Bà Ngô Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 308/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1983; Nơi thường trú: Thôn P, xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
  2. Bị đơn: Anh Thân Văn S, sinh năm 1972; Nơi thường trú: Thôn P, xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Thân Văn S kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn P. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2013, vợ chồng đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Vì con cái nên chị cố nhẫn nhịn để cùng chung sống. Đến tháng 11/2023, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị không thể chịu đựng được nữa nên đã thuê trọ ra ở riêng. Hai bên gia đình đều đã cố gắng hoà giải nhưng không thành. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh S.

- Về con chung: Chị và anh S có hai con chung là Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011 và Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013. Hiện nay, hai con chung đều đang ở cùng với chị. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị đang làm việc tại Công ty A tại thành phố B, thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Thân Văn S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hà Thị H sau một thời gian tự do tìm hiểu có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Tháng 01/2011, anh và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn P. Tháng 10/2023, chị H có nói với anh, với gia đình anh là chị H làm đơn xin ly hôn anh. Đến tháng 11/2023, chị H thuê nhà trọ, cùng 2 con ra ngoài ở. Anh có hỏi lý do tại sao chị H muốn ly hôn nhưng chị H không nói. Anh và chị H chính thức ly thân từ đó đến nay. Bản thân anh luôn mong muốn con cái có gia đình đầy đủ, trọn vẹn nhưng nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị H có hai con chung là Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011 và Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013. Hiện nay, hai con chung đều đang ở cùng với chị H. Sau khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi 01 con chung (anh nuôi con chung nào cũng được) và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh đang làm thợ cơ khí tự do, thu nhập ổn định từ 10.000.000 đồng-15.000.000 đồng nên đủ điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ.

- Tại Biên bản xác minh ngày 28/11/2024, trưởng thôn P, xã S (nay là phường S), thành phố B cung cấp: Sau khi kết hôn, chị H và anh S đều sinh sống tại địa phương. Anh S và chị H có mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không rõ, chỉ biết hiện nay vợ chồng đã ly thân. Chị H thuê nhà khác trong thôn, không sống cùng anh S nữa. Chị H, anh S có 2 con chung, hiện hai con vẫn đi lại, sinh hoạt cả ở nhà anh S và nhà chị H. Anh S, chị H đều làm công việc tự do, có thu nhập đủ để nuôi con.

- Tại Biên bản làm việc ngày 17/01/2025, bà Nguyễn Thị T1 (mẹ chị Hà Thị H) cung cấp: Vợ chồng chị H, anh S trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S nhiều lần ham mê cờ bạc, bỏ bê không chăm lo cho gia đình. Bố mẹ anh S đã mất nên gia đình bà rất thông cảm và vun vén, giúp đỡ nhiều để anh S thay đổi bản thân nhưng đều không có kết quả. Đến tháng 11/2023, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị H không thể chịu đựng được nữa nên đã thuê trọ ra ở riêng. Nay chị H xin ly hôn anh S, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H và anh S có hai con chung là Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011 và Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013. Hiện nay, hai con chung đều đang ở cùng với chị H. Chị H đang làm việc tại Công ty A tại thành phố B, thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con.

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2025, cháu Thân Bích N-sinh ngày 20/11/2011 trình bày: Hiện nay cháu đang học lớp 8A3 trường THCS S1, thành phố B. Cháu mong bố mẹ cháu đoàn tụ để nuôi dạy chị em cháu. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin ở với mẹ Hà Thị H vì cháu thấy ở với mẹ cháu được chăm sóc tốt hơn.

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2025, cháu Thân Thu T-sinh ngày 02/8/2013 trình bày: Hiện nay cháu đang học lớp 6A1 trường THCS S1, thành phố B. Cháu mong bố mẹ cháu đoàn tụ để nuôi dạy chị em cháu. Trường hợp bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin ở với mẹ Hà Thị H vì cháu thấy ở với mẹ cháu được chăm sóc tốt hơn.

*Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được vì bị đơn anh S vắng mặt.

*Tại phiên tòa ngày 06/01/2025, bị đơn anh Thân Văn S vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà.

*Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn chị Hà Thị Hồng G nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến đã trình bày trong hồ sơ vụ án.
  • - Bị đơn anh Thân Văn S nhất trí ly hôn chị H và đề nghị được nuôi cả hai con chung. Trường hợp nếu chỉ được nuôi 01 con chung thì anh đề nghị nuôi con chung Thân Thu T.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Thân Văn S.
  • + Về con chung: Giao chị Hà Thị Hồng N1 con chung Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011. Giao anh Thân Văn S nuôi con chung Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  • + Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • + Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
  • - Về kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Thân Văn S cư trú tại xã S (nay là phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền, đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S kết hôn ngày 21/01/2011 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S (nay là phường S), thành phố B và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị H và anh S có mâu thuẫn, đã ly thân từ tháng 11/2023. Nay, chị H xin ly hôn, anh S đồng ý nên căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Thân Văn S.

[3] Về con chung: Chị H và anh S có hai con chung là Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011 và Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013, hiện đang sống cùng chị H. Xét thấy, hiện nay chị H và anh S đều có việc làm, nơi ở ổn định và đều có nguyện vọng nuôi con chung nên cần giao cho chị H nuôi con chung Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011, giao anh Thân Văn S nuôi con chung Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013 đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H, anh S không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Chị H, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 55, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị H và anh Thân Văn S.
  2. Về con chung: Giao chị Hà Thị Hồng N1 con chung Thân Bích N, sinh ngày 20/11/2011. Giao anh Thân Văn S nuôi con chung Thân Thu T, sinh ngày 02/08/2013. Về cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

    Chị H, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

  3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002041 ngày 08/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND p.Song Mai, TP.Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • - Các đương sự;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

- Lưu HS, VP.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thị H-Thân Văn S Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger