Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 23 - 01 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Ninh
2. Ông Mạc Ngọc Day

Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Huynh – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Phương B; sinh ngày 06/02/1999; nơi sinh: Huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12 dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Quang B1 (đã chết) và bà: Lý Thị X, sinh năm 1971; chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146/QĐ-XPHC ngày 28/5/2023 xử phạt 6.500.000đ về hành Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Chưa chấp hành nộp phạt)

Nhân thân: Bản án hình sự số 25/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã chấp hành xong toàn bộ bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 07/10/2024, Đặng Phương B đi từ nhà ra đường Q đón xe buýt đi đến Km31 Quốc lộ B, thuộc thôn K, xã T, huyện H, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, B xuống xe đi bộ thì gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi, B hỏi và mua được 01 ống hút bằng nhựa màu cam có kẻ trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá với số tiền 200.000đ. Mua được ma túy, B đi bộ xuống gầm cầu K lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số ma túy còn lại Bắc hàn lại như cũ, cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ lên đường đón xe buýt về nhà. Hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi đến Km38 Quốc lộ B đường T - Hà Giang, thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, B xuống xe để đi bộ về nhà thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và khai nhận là ma túy đá, mua về để sử dụng.

Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 07/10/2024 đối với Đặng Phương B, kết quả: (+) dương tính với chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 1361/KL-KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Đặng Phương B là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,192g (không phẩy một chín hai gam).

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSHY, ngày 02/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Đặng Phương B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Phương B theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Đặng Phương B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Phương B từ 01(một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (07/10/2024).
  • Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Phương B tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Phương B đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:

Hồi 16 giờ 10 phút ngày 07/10/2024, tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Đặng Phương B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,192g (không phẩy một chín hai gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước và có thể là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bị cáo là người có 1 tiền sự, bị xử phạt vi phạm hành chính về hình vi Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 06/5/2021 đã bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[5] Về vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,192g (không phẩy một chín hai gam) Methamphetamine. Sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì là vật chứng của vụ án, thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, ngày 20/11/2025, Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 215/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt Cảnh cáo.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Phương B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Phương B 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (07/10/2024).

3. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì niêm phong bên trong chứa ma tuý.

(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện H;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - Lưu HSVA, HSTHAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Phương B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger