Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /HNGĐ-ST

Ngày 22/01/2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng;
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Thủy;
  • Bà Phạm Thị Lan;
  • Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên;

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 94/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; vụ án giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Đ, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Cháu Trần Khánh N, sinh ngày 21/9/2011;
  • + Cháu Trần Hà V, sinh ngày 30/6/2017;

Trú tại: Đ, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Người đại hợp pháp cho cháu N, cháu V: Chị T, anh Đ (là bố, mẹ đẻ các cháu).

* Người làm chứng:

- Ông Trần Văn L, sinh năm 1965. Điạ chỉ: Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:

Chị và anh Trần Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 15/7/2011. Sau khi kết hôn, chị và anh Đ về gia đình nhà chị sinh sống tại Đ, thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi nhau. Đến tháng 9 năm 2018 anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản.Tháng 9 năm 2023 anh Đ về Việt Nam nghỉ phép. Hết thời gian nghỉ phép tháng 10 năm 2023 anh Đ tiếp tục quay trở lại Nhật Bản để làm việc. Hai bên gia đình khuyên bảo vợ chồng cùng nhau hàn gắn tình cảm nuôi dạy con cái nhưng không thành. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị làm đơn xin hôn với anh Trần Văn Đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn Đ có hai con chung là cháu Trần Khánh N, sinh ngày 21/9/2011 và cháu Trần Hà V, sinh ngày 30/6/2017. Trong thời gian anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì hai cháu ở với chị và ông bà ngoại. Đến tháng 9 năm 2023 anh Đ về Việt Nam thì qua đón các cháu về nhà nội. Hiện nay các cháu đang ở với ông bà nội là ông Trần Văn L, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1963 tại xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Ly hôn chị đồng ý giao hai con chung cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì anh Đ đang lao động ở Nhật Bản nên tạm giao hai cháu cho ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng. Đến khi anh Đ về Việt Nam sẽ giao hai cháu cho anh Đ. Chị đồng ý với quan điểm của anh Đ là không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn Đ trình bày lời khai qua mạng xã hội Facebook từ tài khoản của anh Trần Văn Đ là “Trần Đại” có sự chứng kiến của ông Trần Văn L là bố đẻ của anh Đ.

Về quan hệ tình cảm: Quá trình kết hôn, chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị T đã trình bày. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T lảm đơn xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Như chị T đã trình bày, ly hôn anh xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến năm cháu N và cháu V đủ 18 tuổi. Anh Đ không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh ở nước ngoài, anh giao hai cháu cho bố mẹ anh chăm sóc nuôi dưỡng.

Do anh đang lao động tại Nhật Bản nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh. Anh ủy quyền cho bố anh là ông Trần Văn L nhận thay anh các văn bản tố tụng của Tòa án và bố anh sẽ có trách nhiệm thông tin lại cho anh biết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Trần Khánh N, cháu Trần Hà V trình bày:

Cháu tên là Trần Khánh N, sinh ngày 21/9/2011; Trần Hà V, sinh ngày 30/6/2017. Cháu là con của bố Trần Văn Đ, mẹ là Ngô Thị T. Cháu được biết bố cháu đang đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thi thoảng bố cháu có gọi điện về hỏi thăm anh em cháu. Mâu thuẫn giữa bố mẹ cháu như nào cháu không biết. Bố mẹ cháu ly hôn, cháu có mong muốn được ở với bố và ông bà nội.

Hiện tại cháu còn đang đi học nên cháu đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn L1 là bố đẻ anh Đ trình bày:

Quá trình kết hôn, chung sống, ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và về con chung như anh Đ. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh Đ, ông đồng ý với điều kiện phải giai hai con chung cho anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng. Quan điểm của anh Đ cũng là quan điểm của ông. Vì anh Đ đang ở Nhật Bản lao động nên ông sẽ thay anh Đ chăm sóc hai cháu. Khi nào anh Đ về Việt Nam ông sẽ giao hai cháu cho anh Đ. Ông sẽ nhận thay anh Đ các văn bản tố tụng của Tòa án và sẽ thông báo lại cho anh Đ biết.

Tại công văn số 2809/PA08 ngày 23/10/2024 của Phòng X – Công an tỉnh H về việc cung thông tin XNC cung cấp: Trường hợp hợp anh Trần Văn Đ, sinh ngày 05/4/1988, CMND số: [...]; địa chỉ: Đ, T, H, sử dụng hộ chiếu, C6389846, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 13/10/2023 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Tại phiên tòa: Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt.

Chủ tọa thay mặt Hội đồng xét xử công bố tóm tắt nội dung vụ án, lời khai của đương sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng như các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ, Tòa án đã thực hiện việc thông báo và tống đạt văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của của chị Ngô Thị T. Về con chung giao cháu N, cháu V cho anh Đ được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến năm cháu V, cháu Đ1 đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đ không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung các đương sự không yêu cầu Tòa án nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Ngô Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn Đ. Hiện anh Đ đang sinh sống và làm ăn tại Nhật Bản; anh Đ có nơi đăng ký thường trú tại Đ, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; chị. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt nhưng có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 228 và 229 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn và cả hai đã sống ly thân nhiều năm, trong thời gian vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai chỉ biết bổn phận của người đó. Cả chị T và anh Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T xin ly hôn, anh Đại đồng Ý. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Đ đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử cho chị T được ly hôn anh Đ là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh Đ có hai con chung là cháu Trần Khánh N, sinh ngày 21/9/2011; Trần Hà V, sinh ngày 30/6/2017. Chị T và anh Đ đều thống nhất giao cháu N và cháu V cho anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của con chung, cũng như quan điểm của chị T, anh Đ. Do đó ly hôn giao cháu N, cháu V cho anh Đ được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến năm cháu N, cháu V đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Đ không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ngô Thị T:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T được ly hôn anh Trần Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Khánh N, sinh ngày 21/9/2011; Trần Hà V, sinh ngày 30/6/2017 (hiện cả hai cháu đang ở với ông Nguyễn Văn L1 bố đẻ anh Đ) cho anh Trần Văn Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm cháu N, cháy V đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Đ không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, chị T và anh Đ có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị T chịu toàn bộ án phí ly hôn số tiền là 150.000đ đối trừ vào số tiền chị T đã nộp tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000033 ngày 08/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Số tiền còn lại 150.000đ hoàn trả chị T.
  2. Về quyền kháng cáo: Chị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, anh Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày bản án được giao cho các đương sự hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Thụy Lôi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Tăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 09/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger