|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày 04-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Tiến Hiệt;
2. Bà Mùa Thị Mỷ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Thị M (Tên gọi khác: Không); sinh năm 1993, tại huyện Y, tỉnh Sơn La
Nơi cư trú: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Giàng A S và bà Sồng Thị G; Bị cáo có chồng là Sồng Lao L và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 27/4/2023 Giàng Thị Mbị Hạt kiểm lâm huyện Y Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01368/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 9.000.000 đồng về hành vi hành vi Phá rừng trái pháp luật. Giàng Thị M1 chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính. (Đến thời điểm phạm tội mới ngày 09/4/2024 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lò Văn Đ sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm T Có mặt.
- Bị hại: Ông Sồng A G1(Sồng Lao G. Trú tại: Bản C, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn LaVắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Mùa A D chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn LaCó mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 09/4/2024 đến ngày 10/4/2024, do thiếu đất để canh tác, sản xuất nên Giàng Thị M đã nảy sinh ý định chặt phá rừng thuộc bản Co Mon, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La để lấy đất trồng lúa tăng thu nhập cho gia đình. Mũ sử dụng 01 con dao quắm và 01 cưa máy để chặt phá các cây gỗ, cây bụi, dây leo trên diện tích 1303m² rừng phòng hộ thuộc Lô 14, khoảnh 06, tiểu khu H UBND huyện Y cho hộ gia đình ông Sồng A G1(tên gọi khác: Sồng Lao G2quản lý, bảo vệ. Chặt phá xong, Mgom các cây gỗ và cây cỏ bụi lại dọn, đốt để lấy đất sản xuất, sau đó trồng lúa trên diện tích rừng đã chặt phá. Ngày 16/4/2024 Ban Q, huyện Ytuần tra, phát hiện và yêu cầu Giàng Thị M2 chặt phá rừng trái pháp luật để nguyên hiện trường chặt phá, đồng thời trình báo đến cơ quan chức năng giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/5/2024, Hạt Kiểm lâm huyện Y Cơ quan CSĐT Công an huyện YViện kiểm sát huyện YUBND xã PYvà Ban Qxã P, huyện Ytiến hành khám nghiệm hiện trường xác định diện tích rừng bị phá hủy bằng sử dụng máy tính bản GPS xác định vị trí điểm đứng và tiến hành bằng thước dây phần diện tích có dấu vết phá mới khoanh đo toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá xác định: Hiện trường xảy ra vụ hủy hoại rừng tại khu rừng bản C, xã P, thuộc L 06, tiểu khu H bản đồ điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng năm 2018, trạng thái rừng lá rộng thường xanh núi đá phục hồi (TXDP) được quy hoạch rừng phòng hộ, Chủ rừng là Sồng A G1(SDiện tích rừng bị hủy hoại là 1303m². Kiểm đếm số lâm sản bị thiệt hại xác định là các cây gỗ tạp thuộc nhóm V- VIII. Cụ thể: 05 cây gỗ tạp (cắt, xẻ ra thành 11 đoạn) thuộc nhóm V đến nhóm VIII, đường kính gốc từ 15- 30 cm, chiều dài từ 2,1m đến 3,3m. Các cây bụi đã bị phát dọn và đốt. Tại diện tích rừng bị chặt phá đã canh tác, trồng lúa.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao quắm dài 90 cm, lưỡi dao màu đen dài 40cm, bản rộng 3,8cm, dao đã qua sử dụng.
Căn cứ bản đồ điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng theo Quyết định số: 3248/QĐ- UBND ngày 27/12/2018 của UBND tỉnh S bản đồ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng năm 2020, xác định: Lô 14, khoảnh 06, T rừng lá rộng thường xanh núi đá phục hồi, quy hoạch rừng phòng hộ, được UBND huyện Ycấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/01/2003 chủ rừng là Sồng A G1(SNgày 01/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y Quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Ytiến hành định giá tài sản là:
1,333m³ gỗ thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII tại thời điểm tháng 5 năm 2024.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 56/HĐĐG ngày 21/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y: Giá trị 1,333m³ gỗ thường từ nhóm V đến nhóm VIII tại thời điểm tháng 5 năm 2024 là 1.400.000 đồng.
Trước đó ngày ngày 25/4/2023, bị cáo Giàng Thị M3 Hạt Kiểm lâm huyện Ylập biên bản vi phạm hành chính số: 103021/BB- VPHC về hành vi phá rừng trái pháp luật 397m² rừng phòng hộ tại Lô A, tiểu khu H Ngày 27/4/2023 Hạt kiểm lâm huyện Y Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 01368/QĐ- XPVPHC bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 9.000.000 đồng. Mũ không chấp hành nộp phạt. Đến ngày 09/4/2024 Giàng Thị M chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Tại bản Cáo trạng số: 50/2024/CT- VKSYC ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử đối với bị cáo Giàng Thị M4 tội Hủy hoại rừng, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa xét xử, lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, không khai gì thêm so với lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 243; Điều 36; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Giàng Thị M5 án từ 24 tháng đến 28 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Sồng A G1(Skhông yêu cầu Giàng Thị M6 thường nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm dài 90 cm, lưỡi dao màu đen dài 40cm, bản rộng 3,8cm, dao đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 1,333m³ gỗ tạp, gồm 11 đoạn cây, có chiều dài từ 2,1 m đến 3,3m.
Về án phí: Bị cáo Giàng Thị M7 dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và là hộ nghèo, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí như lời luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị M: Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội Hủy hoại rừng là đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc vào nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh
của việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là dân tộc thiểu số, sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do thiếu đất sản xuất nên dẫn đến hành vi phạm tội. Sau khi hành vi bị bát hiện bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm g khoản 1 Điều 243, Điều 36; điển s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS quyết định hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo hưởng mức hình phạt 22 đến 28 tháng cải tạo không giam giữ, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.
Khi được nói lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bị cáo, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại Sồng A G1(Sồng Lao G2vắng mặt không có lý do, nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, bị hại không yêu cầu bồi thường. Việc bị hại vắng mặt không ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 BLTTHS.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Giàng Thị M8 đủ cơ sở khẳng định:
Do thiếu đất sản xuất, trong khoảng thời gian từ ngày 9/4/2024 đến ngày 10/4/2024, Giàng Thị M8 hành vi dùng 01 con dao và 01 cưa máy chặt, phá rừng để lấy đất sản xuất tại khu rừng bản Co Mon, xã P, huyện Y bị chặt phá là rừng phòng hộ thuộc Lô 14, khoảnh 06, tiểu khu H ông Sồng A G1(Slàm chủ rừng. Diện tích rừng bị chặt phá là 1.303m², làm thiệt hại 1,333 m³ gỗ thường từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá 1.400.000 đồng. Trước đó ngày 27/4/2023 Giàng Thị Mbị Hạt kiểm lâm huyện Y Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi phá rừng trái pháp luật 397m² rừng phòng hộ. Đến nay, Giàng Thị M1 chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tính đến ngày 09/4/2024 Giàng Thị M chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản tin tiếp nhận nguồn tin về tội
phạm ngày 17/4/2024, kết quả khám nghiệm hiện trường, Kiểm đếm số lâm sản thiệt hại ngày 31/5/2024, quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 27/4/2023, Quyết định rà soát, điều chỉnh quy hoạch 03 loại rừng giai đoạn 2017 đến 2025 và định hướng đến 2030, bản đồ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng năm 2020, Kết luận định giá và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Giàng Thị M9 phạm vào tội Hủy hoại rừng, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ. Việc xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hôị, diện tích rừng bị chặt phá là 1.303m², làm thiệt hại 1,333 m³ gỗ thường từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá 1.400.000 đồng, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Yy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại rừng, còn chưa chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nhưng chỉ vì muốn có đất để canh tác, trồng trọt và kiếm lời, bị cáo lại bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý và phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo có mức hình phạt quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 “phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế, gia đình thuộc hộ nghèo. Hành vi và mục đích của bị cáo xuất phát từ nguyên nhân do hoàn cảnh khó khăn, thiếu đất canh tác. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn. Do đó cần vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, song bị cáo đã có tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi phá rừng chưa chấp hành xong và là tình tiết cấu thành tội Hủy hoại rừng.
Từ sự phân tích trên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Gia đình thuộc hộ nghèo. Bị cáo gây thiệt hại không lớn sau khi phạm tội đã thực sự ăn năn hối cải. Xét chưa cần thiết cách ly bị cáo ra
ngoài xã hội, mà cần vận dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện giúp bị cáo tự cải tạo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội.
[4] Về khấu trừ thu nhập; Hình phạt bổ sung: theo quy định tại Điều 36, khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 người phạm tội còn bị khấu trừ một phần thu nhập, có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo làm nghề trồng trọt, là hộ nghèo, nguồn thu nhập chính của gia đình chủ yếu là do trồng trọt, nên cần miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Sồng A G1cầu Giàng Thị M10Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với 1,333m³ gỗ tạp, gồm 11 đoạn cây, có chiều dài từ 2,1 m đến 3,3m, đang còn giá trị sử dụng cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 con dao quắm dài 90 cm, lưỡi dao màu đen dài 40 cm, bản rộng 3,8cm, dao đã qua sử dụng. Bị cáo sử dụng để chặt phá các cây gỗ, xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Giàng Thị M7ời dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 243; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Giàng Thị M11ủy hoại rừng.
-
Xử phạt bị cáo Giàng Thị M(Hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ 132 ngày đã tạm giam (từ ngày 26/7/2024 đến ngày 04/12/2024) quy đổi ra 396 ngày cải tạo không giam giữ (tức 13 tháng 01 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng 29 ngày cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Giàng Thị M12 ban nhân dân xã Pỉnh Sơn Laám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án cấp huyện nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án đối với Giàng Thị M13hoại rừng.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 1,333m³ gỗ tạp, gồm 11 đoạn cây, có chiều dài từ 2,1 m đến 3,3m.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm dài 90 cm, lưỡi dao màu đen dài 40 cm, bản rộng 3,8cm, dao đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 10/BB- CCTHADS ngày 14/11/2024 giữa cơ quan Công an và chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu).
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Giàng Thị Mũ.
Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 04/12/2024.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về hình sự (hủy hoại rừng)
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hủy hoại rừng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giàng Thị M phạm tội Hủy hoại rừng
