|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày 18 -11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
2. Ông Phàn A Long
Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 05/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1991; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nông Văn C, sinh năm 1967 và con bà Lò Thị T1, sinh năm 1969; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Lò Thị M, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 15/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt.
- * Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
- * Những người làm chứng:
- - Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1993, trú tại bản Mỏ, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
- - Anh Tẩn Văn T3, sinh năm 1982, trú tại bản Po Chà, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 05/6/2024, Nông Văn T đi bộ từ nhà đến bản C, xã S, huyện P mua H để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Chí S, T mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine giá 600.000 đồng. Mua được H1, T mang về nhà dùng dao lam chia thành 12 gói nhỏ cất giấu dưới chân giường ngủ.
Vào hồi 07 giờ 30 phút ngà 06/6/2024 khi Hoàng Văn T2 đang ở lán ruộng của mình tại bản Mỏ, xã N bị công an phát hiện đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ của Trực: 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy, 01 bật lửa ga màu đỏ ở lán ruộng của Trực thuộc bản Màu, xã N. T2 đã khai ra nguồn gốc số Heroin mua của Nông Văn T. Cùng ngày, Cơ quan công an đã bắt quả tang tại nhà Nông Văn Trưởng và thu giữ 07 gói Heroine và 05 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (do T tự giao nộp). Ngay sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, quá trình khám xét thu giữ 01 con dao lam, 01 bơm tiêm và T đã khai nhận:
Khoảng 17 giờ ngày 05/6/2024, T đang ở nhà mình thì có Hoàng Văn T2, sinh năm 1993, trú tại bản Mỏ, xã N, huyện P đến hỏi mua Heroine để sử dụng, T đồng ý bán. Trực đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, T nhận tiền rồi lấy 01 gói Heroine để dưới chân giường ngủ bán cho T2. Mua bán xong T2 đi về còn T ở tại nhà mình. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T2 quay lại nhà T hỏi mua Heroine, T tiếp tục bán cho T2 01 gói Heroine lấy 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Tẩn Văn T3, sinh năm 1982, trú tại bản Po Chà, xã N, huyện P đến nhà T hỏi mua Heroine. T3 đưa cho T 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, T nhận tiền rồi lấy 02 gói Heroine bán cho T3. Khoảng 06 giờ ngày 06/6/2024, T lấy 01 gói Heroine trong 08 gói còn lại, cấu một nửa sử dụng hết bằng hình thức chích, nửa Heroine chưa sử dụng T gói lại cất giấu vào vị trí cũ dưới chân giường ngủ. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Trực tiếp T4 đến nhà hỏi mua H1 và đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, T nhận tiền rồi lấy 01 gói Heroine bán cho T. Sau khi T2 về, T đi vào giường ngủ để 05 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng do bán Heroine mà có dưới đệm giường ngủ.
Cơ quan điều tra triệu tập lấy lời khai của Hoàng Văn T2, Tẩn Văn T3, lời khai của T2 và T3 phù hợp với lời khai của T. T2 và T3 khai sau khi mua Heroine của T, T2 mang ra lán ruộng của T2 sử dụng hết, T3 mang về nhà sử dụng hết.
Tại bản Kết luận giám định số 43/KLGĐ ngày 06/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Nông Văn T có tổng khối lượng là 0,50 gam. Tại bản Kết luận giám định số 679 ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 683/KLGĐ ngày 08/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 05 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng gửi đến giám đình đều là tiền thật.
Ngày 05/9/2024, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra cho Nông Văn T diễn lại hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, kết quả: T đã thực hiện lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra.
Bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 107/KLĐT ngày 01/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a,b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 08 giờ 30 phút ngày 06/6/2024, bị cáo Nông Văn T đang ở nhà thì bị Công an huyện P bắt quả tang, thu giữ của bị cáo 07 gói Heroine có tổng khối lượng 0,50 gam tàng trữ để bán kiếm lời và số tiền 500.000 đồng do bán Heroine mà có. Theo đó, bị cáo thừa nhận trong các ngày 05 và 06/6/2024, tại nhà của mình ở bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi bán trái phép 05 gói Heroine cho Hoàng Văn T2, Tẩn Văn T3 lấy tổng số tiền 500.000đồng
Lần 1: khoảng 17 giờ ngày 05/6/2024, T bán cho T2 01 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng.
Lần 2: khoảng 18 giờ ngày 05/6/2024, T bán cho T2 01 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng.
Lần 3: khoảng 20 giờ ngày 05/6/2024, T bán cho T3 02 gói Heroine lấy số tiền 200.000 đồng.
Lần 4: khoảng 06 giờ 30 phút ngày 06/6/2024, T bán cho T2 01 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo hám lời nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
-
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên có mối quan hệ với các đối tượng nghiện chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự thú việc bị cáo bán ma túy cho Tẩn Văn T3; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật rất hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt Hội đồng xét xử thấy không phù hợp nên không chấp nhận.
- [4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, nguồn thu nhập thấp, không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,50 gam Heroine thu giữ của Nông Văn T Cơ quan điều tra đã lấy 0,075 gam làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại gồm: 0,425 gam Heroine; 07 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở; 01 con dao lam; 01 bơm tiêm; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy; 01 bật lửa ga màu đỏ là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo do phạm tội mà có cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự .
-
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma tuý, bị cáo Nông Văn T khai mua của một người không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Đối với Hoàng Văn T2, Tẩn Văn T3 có hành vi mua Heroine của bị can Nông Văn T để sử sụng. T2 và T3 khai đã sử dụng hết số Heroine mua được, do vậy Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 và T3 là đúng quy định.
- [7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a,b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
-
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,425 gam Heroine; 07 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở; 01 con dao lam; 01 bơm tiêm; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy; 01 bật lửa ga màu đỏ.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Tr phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
