Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS- ST

Ngày: 06/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Cường; Ông Hoàng Văn Phanh
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà:
  • Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên

Ngày 06/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST - HS, ngày 08/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST - HS ngày 23/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Lò Văn Q, sinh ngày: 13/3/1990; Nơi sinh: Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Lăn (đã chết); con bà Tòng Thị Mành, sinh năm: 1952; bị cáo có vợ là Lường Thị Xuân, sinh năm: 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2009, con nhỏ sinh năm: 2010; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/6/2024, đến ngày 21/6/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lò Văn T, sinh ngày: 13/12/2004; Nơi sinh: Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Thắm, sinh năm: 1972; con bà Lò Thị Mây, sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/6/2024, đến ngày 21/6/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn Hòa, sinh năm 1979, trú tại: Bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09 giờ 14 phút ngày 12/6/2024, Lò Văn Q, sinh năm 1990, trú tại bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, có lắp sim Viettet với số thuê bao 0385537589 gọi điện thoại cho Lò Văn T, sinh năm 2004, trú cùng bản với sim Viettel số thuê bao 0868.052.xxx để rủ T góp tiền để mua Heroin cùng nhau sử dụng, T đồng ý. Sau đó T đi bộ đến nhà của Q và đưa cho Q số tiền 40.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng) để góp chung mua Heroin, Q cầm tiền của T rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại DREAM, màu sơn nâu, biển kiểm soát 25U1-052.47 (xe mô tô do Q mượn của anh trai ruột tên là Lò Văn Hòa, sinh năm 1979, trú tại bản Chom Chăng, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên; khi mượn xe Q không nói cho anh Hòa biết mục đích mượn xe đi mua Heroin) để đi tìm mua Heroin, còn T quay về nhà đợi. Đến hồi 10 giờ 55 phút cùng ngày, khi Q đang đi tìm mua Heroin thì T tiếp tục dùng số điện thoại nói trên gọi điện thoại cho Q và cả hai thống nhất hẹn nhau ra cổng nghĩa trang nhân dân huyện Tân Uyên, thuộc bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên để cùng nhau sử dụng Heroin sau khi Q mua được Heroin, sau đó Q tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm mua Heroin.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe đi đến khu vực phía sau chợ thuộc Tổ dân phố 15, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch đang đứng ở ngoài đường. Qua trao đổi, Q mua được từ người đàn ông này 01 gói Heroin lớp bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu hồng, lớp bên trong được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng với số tiền 400.000 đồng (trong đó gồm 40.000 đồng là tiền của T góp còn lại 360.000 đồng là tiền của Q góp). Sau khi mua được Heroin, Q cất giấu trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về.

Hồi 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi Q điều khiển xe đi về đến đoạn đường cổng nghĩa trang nhân dân huyện Tân Uyên, thuộc bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên thì gặp tổ công tác thuộc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đang làm nhiệm vụ ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này do lo sợ nên Q đã thả từ trong lòng bàn tay phải 01 gói Heroin mà Q đã mua được trước đó xuống mặt đường rồi tiếp tục điều khiển xe đi thêm 15,2 mét thì bị tổ công tác phát hiện. Tại vị trí này, Q khai nhận 01 gói Heroin có đặc điểm nói trên là Heroin do Q đã thả xuống và số tiền dùng để mua Heroin do Q và T cùng nhau góp để mua với mục đích cùng nhau sử dụng. Sau đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói Heroin lớp bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu hồng, lớp bên trong được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,31 gam; đồng thời thu giữ số tiền 40.000 đồng tiền Việt Nam bao gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có mã số hiệu NI 21638131 và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có các mã số hiệu lần lượt là PM 17454430, GM 20488984 (là tiền của T đưa cho Q để góp chung mua Heroin nhưng do là tiền lẻ nên Q đã giữ lại và dùng tiền chẵn của Q để mua Heroin); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, số IMEL 1: 35634811420360, số IMEL 2: 35634811420378, trên máy lắp sim Viettel có số seri: 8984048000920652989, số thuê bao 0385537589; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại DREAM, màu sơn nâu, số máy 0022144, số khung 022050, biển kiểm soát 25U1-052.47, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

Cùng ngày 12/6/2024, căn cứ lời khai của Lò Văn Q, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T về hành vi đồng phạm tàng trữ trái phép 0,31 gam Heroin với Lò Văn Q, Vật chứng thu giữ của T là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, vỏ màu hồng, có ốp lưng bằng nhựa dẻo màu trắng, số IMEL: 354955070431694, số MEID: 35495507043169, trên máy lắp sim Viettel có số seri: 8984048000902467677, số thuê bao 0868052904. Tại cơ quan điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với lời khai của Q và các tài liệu, chứng cứ khác.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản kết luận giám định số 51/KL-TCGĐ ngày 12/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Tân Uyên, kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn Q và Lò Văn T có khối lượng 0,31 gam (không phẩy ba mươi mốt gam).

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã trích 0,23 gam trong tổng số 0,31 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn Q và Lò Văn T, theo Q và T khai nhận là Heroin để gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 749/KL-KTHS, ngày 15/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại bản kết luận giám định số 750/KL-KTHS, ngày 15/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: Tổng số tiền 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) tiền Việt Nam bao gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000đ có mã số hiệu NI 21638131 và 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 10.000₫ có các mã số hiệu lần lượt là PM 17454430, GM 20488984 gửi giám định là tiền thật.

Vật chứng còn lại của vụ án: 0,08 gam Heroin; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, số IMEL 1: 35634811420360, số IMEL 2: 35634811420378, trên máy lắp sim Viettel có số seri: 8984048000920652989, số thuê bao 0385537589, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, vỏ màu hồng, có ốp lưng bằng nhựa dẻo màu trắng, số IMEL: 354955070431694, số MEID: 35495507043169, trên máy lắp sim Viettel có số seri: 8984048000902467677, số thuê bao 0868052904, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn T; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại DREAM, màu sơn nâu, số máy 0022144, số khung 022050, biển kiểm soát 25U1-052.47, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Lò Văn Q; Số tiền 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng) tiền Việt Nam bao gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có mã số hiệu NI 21638131 và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có các mã số hiệu lần lượt là PM 17454430, GM 20488984 thu giữ của Lò Văn Q.

Bản cáo trạng số: 82/CT - VKS - TU ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố các bị cáo Lò Văn Q, Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn Q từ 01 năm 6 tháng đến 01 năm 10 tháng tù. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 8 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, số IMEL 1: 35634811420360, số IMEL 2: 35634811420378 thu giữ của Lò Văn Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, vỏ màu hồng, có ốp lưng bằng nhựa dẻo màu trắng, số IMEL: 354955070431694, số MEID: 35495507043169 thu giữ của Lò Văn T; Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phôi sim Viettel có số seri: 8984048000920652989, số thuê bao 0385537589 thu giữ của bị cáo Q; 01 phôi sim Viettel có số seri: 8984048000902467677, số thuê bao 0868052904 thu giữ của bị cáo T; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn do Công an huyện Tân Uyên phát hành bên trong đựng 0,08 gam Heroin, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu trắng do không có giá trị sử dụng và là vật Nhà nước cấm tàng trữ; Đối với số tiền 40.000 đồng thu giữ của bị cáo Q xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo Q.

Đề nghị trả lại cho anh Lò Văn Hòa 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại DREAM, màu sơn nâu, số máy 0022144, số khung 022050, biển kiểm soát 25U1-052.47.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lò Văn Q thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Q.

Cả hai bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Cả hai bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người tham gia tố tụng. Vì vậy việc vắng mặt của người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 292; Điểm d khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Hồi 09 giờ 14 phút, ngày 12/6/2024, Lò Văn Q và Lò Văn T, thống nhất cùng nhau góp tiền để mua Heroin cùng nhau sử dụng (Q góp số tiền 360.000 đồng và T góp số tiền 40.000 đồng) và Q là người trực tiếp đi mua Heroin. Đến hồi 12 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi mua được Heroin, Lò Văn Q đi về đến khu vực cổng nghĩa trang nhân dân huyện Tân Uyên, thuộc bản Tạng Đán, xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,31 gam Heroin với mục đích mang về cùng với Lò Văn T sử dụng. Cùng ngày, Lò Văn T bị bắt trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về hành vi đồng phạm tàng trữ trái phép 0,31 gam Heroin với Lò Văn Q.

[4] Đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy: Các bị cáo là người nghiện chất ma túy nên các bị cáo mua Heroin về để sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, khối lượng chất ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép là 0,31 gam Heroin. Như vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên truy tố các bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội.

[6] Đánh giá về vai trò đồng phạm: HĐXX xét thấy vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lò Văn Q là người rủ rê khởi xướng nên phải chịu trách nhiệm với vai trò chính và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T. Bị can Lò Văn T là người cùng góp chung tiền để thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của bản thân. Tổng khối lượng chất ma túy mà các bị cáo Lò Văn Q và Lò Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,31 gam Heroin.

[7] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người dân tộc thiểu số tuy không sống ở khu vực đặc biệt khó khăn, nhưng nhận thức có phần hạn chế, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[9] Xét về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên các bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên cũng HĐXX cần phải xem xét đánh giá hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có một mức án nghiêm khắc phù hợp với từng bị cáo, đồng thời cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của các bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự

[11] Về vật chứng: Đối với 0,31 gam Heroin đã trích 0,23 gam gửi giám định không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không xem xét giải quyết. Hiện còn lại 01 phong bì công văn do Công an huyện Tân Uyên phát hành bên trong đựng 0,08 gam Heroin, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, số IMEL 1: 35634811420360, số IMEL 2: 35634811420378 thu giữ của Lò Văn Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, vỏ màu hồng, có ốp lưng bằng nhựa dẻo màu trắng, số IMEL: 354955070431694, số MEID: 35495507043169 thu giữ của Lò Văn T do các bị cáo dùng làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phôi sim Viettel có số seri: 8984048000920652989, số thuê bao 0385537589 thu giữ của bị cáo Q; 01 phôi sim Viettel có số seri: 8984048000902467677, số thuê bao 0868052904 thu giữ của bị cáo T.
  • - Đối với số tiền 40.000 đồng thu giữ của bị cáo Q xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên trả lại cho bị cáo Q.
  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại DREAM, màu sơn nâu, số máy 0022144, số khung 022050, biển kiểm soát 25U1-052.47 là tài sản hợp pháp của anh Lò Văn Hòa, anh Hòa không biết bị cáo Q sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho anh Lò Văn Hòa.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lò Văn Q thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Q.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[14] Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, bị cáo Lò Văn Q khai do bị cáo trực tiếp mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chủ sở hữu chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 25U1-052.47 là anh Lò Văn Hòa (anh trai ruột của bị cáo Lò Văn Q). Quá trình điều tra xác định việc bị cáo Q sử dụng chiếc xe này để đi mua và tàng trữ Heroin thì anh Hòa không biết. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên không đề cập xử lý đối với anh Hòa là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lò Văn Q, Lò Văn T.

Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, 333 - Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Q, Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/6/2024.
  3. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/6/2024.

  4. Về vật chứng:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, số IMEL 1: 35634811420360, số IMEL 2: 35634811420378 thu giữ của Lò Văn Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, vỏ màu hồng, có ốp lưng bằng nhựa dẻo màu trắng, số IMEL: 354955070431694, số MEID: 35495507043169 thu giữ của Lò Văn T.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phôi sim Viettel có số seri: 8984048000920652989, số thuê bao 0385537589 thu giữ của bị cáo Lò Văn Q; 01 phôi sim Viettel có số seri: 8984048000902467677, số thuê bao 0868052904 thu giữ của bị cáo Lò Văn T; 01 phong bì công văn do Công an huyện Tân Uyên phát hành bên trong đựng 0,08 gam Heroin, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
    • - Trả lại cho bị cáo Lò Văn Q với số tiền 40.000 đồng tiền Việt Nam bao gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có mã số hiệu NI 21638131 và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có các mã số hiệu lần lượt là PM 17454430, GM 20488984.
    • - Trả lại cho anh Lò Văn Hòa 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại DREAM, màu sơn nâu, số máy 0022144, số khung 022050, biển kiểm soát 25U1-052.47, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Q.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo liên quan đến quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tân Uyên;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS- ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 09/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò văn Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger