Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/KDTM-ST

Ngày: 19/9/2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Đỗ Khắc Kiếm
  • 2. Bà Nguyễn Thị Loan

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện VKSND TP Thanh Hóa. tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2024/TLST-KDTM ngày 06 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 244b/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 8 năm 2024 và “Quyết định hoãn phiên tòa” số 152/2024/QĐ-TA ngày 11/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (tên gọi tắt: A)

Địa chỉ: D N, phường E, quận C, TP ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, Chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T - Giám đốc xử lý nợ.

Địa chỉ: Tầng F, số A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

Người được ủy quyền lại: Ông Bùi Huy H, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Đường L, phường H, thị xã T, Nghệ An.

- Bị đơn: Công ty cổ phần Đ

Địa chỉ: E Q, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Xuân B, sinh năm 1972, Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Địa chỉ: Số H đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Xuân B, sinh năm 1972.

2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974.

Cùng địa chỉ: Số H đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

3. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1945.

Địa chỉ: C N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

4. Ông Lê Tiến S, sinh năm 1974.

Địa chỉ: SN E Q, P. Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (tên gọi tắt: A) trình bày:

Công ty cổ phần Đ (Sau đây gọi tắt là C) có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần Á (Sau đây gọi tắt là A) 02 hợp đồng tín dụng như sau:

Ngày 30/6/2022 C và A ký “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.1616.290622. Đồng thời hai bên cùng ký kết bản “Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung” số THH.DN.1572.290622. Theo nội dung các văn bản tín dụng nêu trên A đồng ý cấp tín dụng cho C số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng); Hình thức cho vay: Từng lần; Thời hạn giải ngân: 06 tháng kể từ ngày ký hợp đồng (ngày 30/6/2022); Phương thức giải ngân được quy định trong từng “Khế ước nhận nợ”; Mục đích vay: Đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của C; Thời hạn cho vay là 60 tháng kể từ ngày C nhận tiền vay lần đầu; Lãi suất theo quy định chung của A; Tiền nợ gốc thanh toán 03 tháng/lần, nợ lãi thanh toán 01 tháng/lần.

Ngày 03/8/2022 C và A ký “Hợp đồng cấp tín dụng" số THH.DN.2127.010822. Theo hợp đồng này A đồng ý cấp tín dụng cho C số tiền 3.700.000.000₫; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh; Thời hạn hiệu lực của hợp đồng này là ngày 30/6/2023; Lãi suất theo quy định chung của A; Tiền nợ gốc thanh toán 03 tháng/lần, nợ lãi thanh toán 01 tháng/lần.

Trên cơ sở 02 hợp đồng tín dụng (nêu trên) A giải ngân cho công ty Đ tổng số tiền 5.740.000.000₫ thông qua 06 “Khế ước nhận nợ” gồm: Khế ước ngày 06/7/2022 (nhận nợ 2.000.000.000 đồng); ngày 14/6/2023 (nhận nợ 200.000.000 đồng); Ngày 14/6/2023 (nhận nợ 240.000.000₫); Ngày 28/6/2023 nhận nợ 1.500.000.000₫; Ngày 29/6/2023 nhận nợ 1.300.000.000₫ và ngày 29/6/2023 (nhận nợ 500.000.000 đồng).

Khoản vay của các hợp đồng tín dụng (nêu trên) được đảm bảo bằng tài sản của bên thứ 3 thông qua 02 hợp đồng thế chấp gồm:

“Hợp đồng thế chấp tài sản” số THH.BĐDN 234.290622 ngày 30/6/2022 giữa ông Lê Xuân B và bà Nguyễn Thị H1 với A. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thừa số: Lô 1066, tờ bản đồ số MBQH 530, địa chỉ: Lô S M, phường Đ, thành phố T; Giấy chứng nhận QSDĐ số BT136689 do UBND thành phố T cấp ngày 08/5/2014 mang tên ông Lê Xuân B bà Nguyễn Thị H1. Và Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa số lô 1067, tờ bản đồ số MBQH 530, địa chỉ: lô S M, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận QSDĐ số BT087472 do UBND thành phố T cấp ngày 03/3/2014 mang tên ông Lê Xuân B.

“Hợp đồng thế chấp tài sản” số THH.BĐDN.347.010822 ngày 02/8/2022 giữa bà Phạm Thị T1 với A. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: C đường N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận QSDĐ số DE 600751 do Sở TNMT cấp ngày 24/6/2022 mang tên bà Phạm Thị T1.

Đồng thời ngày 30/6/2022 và ngày 03/8/2022 ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1, bà Phạm Thị T1, ông Lê Tiến S ký với A “Giấy cam kết về việc trả nợ” nhận trách nhiệm trả nợ thay cho công ty Đ trong trường hợp Công ty đá không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho A.

Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng (nêu trên) Công ty Đ đã trả cho A được một phần tiền gốc và lãi. Từ tháng 9/2023 Công ty Đ không thực hiện việc trả nợ cho A theo thỏa thuận của hợp đồng. A đã nhiều lần thông báo nhắc nhở nhưng C không thực hiện trả nợ đúng hạn. Vì vậy A khởi kiện yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết: Buộc Công ty cổ phần Đ trả cho A tổng số nợ tính đến ngày 27/11/2023 là 5.275.652.482đ (gồm: nợ gốc 5.200.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 46.869.041 đồng, nợ lãi quá hạn 28.642.12 đồng, tiền phạt chậm trả lãi 141.249 đồng). Đồng thời buộc C tiếp tục trả tiền lãi, tiền phạt chậm trả lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại bản “Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung”, “Hợp đồng cấp tín dụng”, “Khế ước nhận nợ” đã ký giữa hai bên kể từ ngày 28/11/2023 đến ngày trả hết nợ. Trường hợp C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì A được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp hai bên đã ký (nêu trên) để thu hồi nợ. Đồng thời, buộc ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1, bà Phạm Thị T1, ông Lê Tiến S có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A theo giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 30/6/2022 và 03/8/2022.

Về phía bị đơn: Tại bản tự khai, Biên bản lấy lời khai ông Lê Xuân B (Người đại diện theo pháp luật của C, đồng thời là người có QLVNVLQ trong vụ án) trình bày thống nhất với trình bày của A về nội dung hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và giấy cam kết trả nợ đã ký giữa các bên. Ông B xác nhận ông B đã đại diện công ty Đ ký với A 02 hợp đồng tín dụng gồm: “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.1616.290622 ngày 30/6/2022 (hạn mức cấp số tiền 2.000.000.000₫) và “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.2127.010822 ngày 03/8/2022 (hạn mức cấp số tiền 3.700.000.000₫). Mục đích vay là để: Đầu tư máy móc, thiết bị, bổ sung vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Cty; trên cơ sở hai hợp đồng cấp hạn mức nêu trên và 06 “Khế ước nhận nợ” A giải ngân cho C vay tổng số tiền là 5.740.000.000₫.

Ông B cũng xác định tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay trên của cty C gồm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thừa số lô 1066 và 1067, tờ bản đồ số MBQH 530, địa chỉ: Lô S, 1067 MBQH 530/UBND-QLĐT, phường Đ, thành phố T (số nhà H đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa); Giấy chứng nhận QSDĐ số BT136689 ngày 08/5/2014 mang tên ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1 (vợ ông B) và Giấy chứng nhận QSDĐ số BT087472 cấp ngày 03/3/2014 mang tên ông Lê Xuân B. Và Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: C đường N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận QSDĐ số DE 600751 ngày 24/6/2022 mang tên bà Phạm Thị T1 (mẹ ông B).

Quá trình thực hiện hợp đồng, cty C đã trả cho A một phần nợ gốc và lãi. Từ tháng 11/2023 Công ty chậm trả gốc lãi cho A theo thoả thuận tại hợp đồng đã ký là do công ty đang đầu tư xây dựng nhà máy và mua thêm mỏ đá; Mặt khác do trời mưa (thời tiết không thuận lợi) nên tiến độ thi công chậm so với dự kiến nên chưa có nguồn thu. Nay A khởi kiện yêu cầu trả toàn bộ nợ, C đồng ý với số nợ gốc, nợ lãi mà A trình bày và đồng ý trả nợ. Tuy nhiên công ty đang trong giai đoạn khó khăn nên đề nghị A cho công ty trả nợ dần thành nhiều kỳ, tạo điều kiện cho công ty vừa phát triển sản xuất kinh doanh vừa trả nợ cho A.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Bà Phạm Thị T1): Tại bản tự khai và Biên bản lấy lời khai, bà T1 trình bày: Ngày 02/8/2022 bà tự nguyện ký hợp đồng thế chấp số THH.BDDN.347.010622 với A để thế chấp tài sản của bà là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: C đường N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận QSDĐ số DE 600751 do Sở TNMT cấp ngày 24/6/2022 mang tên bà Phạm Thị T1 để đảm bảo cho khoản vay của C do con trai bà (ông B) là chủ. Việc ký hợp đồng do bà tự nguyện. Quá trình thực hiện hợp đồng vay đến nay Cty Đá đã trả được bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu bà không biết. Nay do C chậm trả nợ nên A khởi kiện yêu cầu Công ty Đ trả nợ bà không có ý kiến gì; Trường hợp ngân hàng xử lý tài sản thế chấp để thu nợ bà yêu cầu anh B phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của anh B chị H1

Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Tiến Sĩ quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thống báo hợp lệ để bà H1 ông S đến làm việc song bà H1 ông S không có mặt làm việc và không có bất cứ phản hồi nào tới Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Kết quả: Thực trạng tài sản thế chấp của ông B bà H1 nguyên trạng về số lượng chủng loại như khi ký hợp đồng thế chấp; Tài sản thế chấp của bà T1 thực tế có căn nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất thế chấp, thuộc sở hữu của bà T1.

Tại phiên hoà giải ngày 19/7/2024, người đại diện của ngân hàng Á và ông Lê Xuân B thống nhất: Tính đến ngày 19/7/2024 công ty cổ phần Đ còn nợ Ngân hàng Á là 5.849.670.480 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ, tám trăm bốn chín triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăn tám mươi đồng), trong đó gồm: Nợ gốc 5.148,634.406 đồng, lãi trong hạn 46.869.041 đồng, lãi quá hạn 638.425.969 đồng, phạt chậm trả lãi 15.741.064 đồng. A yêu cầu Công ty cổ phần Đ trả tòan bộ số nợ trên, đồng thời tiếp tục trả tiền lãi, tiền phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên. Ông Lê Xuân B đề nghị A cho công ty trả nợ theo kỳ, cụ thể: Kỳ 1: Chậm nhất là ngày 30/8/2024 trả 700.000.000đ; Kỳ 2: Chậm nhất là ngày 30/9/2024 trả 1.300.000.000đ; Sau khi trả xong số tiền nợ 2.000.000.000₫ Ngân hàng giải chấp tài sản của bà Phạm Thị T1; Từ tháng 10/2024 đến tháng 3/2025 trả 200.000.000đ/tháng; Từ tháng 4/2025 trả 300.000.000đ/tháng cho đến khi hết nợ. Trường hợp Công ty Đ vi phạm các kỳ trả nợ thì A được quyền xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. A không đồng ý với đê nghị chia kỳ trả nợ của công ty đá.

Ngày 10/01/2022, Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đã được tống đạt hợp lệ cho A, ông B, bà H1, bà T1, ông S. Tại phiên tòa ngày 11/9/2024, người đại diện theo ủy quyền của A có mặt; Người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ, ông B, bà H1, bà T1, ông S vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX quyết định hoãn phiên tòa đồng thời ấn định thời gian xét xử lại vụ án vào hồi 13 giờ 30 ngày 19/9/2024. Quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ, ông B, bà H1, bà T1, ông S vắng mặt lần thứ 2, không có lý do.

Đại diện của A giữ nguyên yêu cầu khỏi kiện. Đối với số tiền Công ty Đ còn nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 6.018.029.725 (trong đó nợ gốc 5.148.634.406đ, nợ lãi trong hạn 46.869.041đ, lãi quá hạn 798.306.318₫, phạt chậm trả lãi 24.219.960₫).

Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của A kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Công ty Đ, ông B, bà H1, bà T1, ông S chấp hành không đầy đủ quy định. Tại phiên tòa bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung vụ án: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của A buộc Công ty cổ phần Đ trả cho A toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 6.018.029.725 (trong đó nợ gốc 5.148.634.406đ, nợ lãi trong hạn 46.869.041đ, lãi quá hạn 798.306.318đ, phạt chậm trả lãi 24.219.960đ). Đồng thời buộc Công ty Đ phải tiếp tục trả lãi, tiền phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại các văn bản tín dụng đã ký giữa hai bên kể từ ngày 20/9/2024 đến khi thanh toán hết nợ cho A. Trường hợp Công ty Đ không trả hoặc trả không đầy đủ số nợ trên cho A thì A được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp tại các “Hợp đồng thế chấp” mà ông B bà H1 và bà T1 đã ký với A để thu hồi toàn bộ nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng đã ký; Đồng thời buộc ông B, bà H1, bà T1, ông S chịu trách nhiệm liên đới trong việc trả số tiền Công ty Đ nợ A; Về án phí; Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Ngân hàng Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bị đơn là Công ty CP Đ, có địa chỉ trụ sở tại phường Đ, thành phố T do đó TAND TP. thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 30, Điều 35, Điều 39 - Bộ luật TTDS.

Về thời hiệu khởi kiện: Đảm bảo thời hiệu quy định tại Điều 429 - BLDS.

Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện của Công ty cổ phần Đ, ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H2, bà Phạm Thị T1, ông Lê Tiến s. HĐXX xét, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay ông B, bà H2, bà T1, ông S vắng mặt lần thứ 2, HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ.

[2] Về tính hiệu lực của hợp đồng:

Ngày 30/6/2022 Công ty Đ và A ký “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.1616.290622; Đồng thời hai bên cùng ký kết bản “Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung” số THH.DN.1572.290622; Ngày 03/8/2022 C và A ký “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.2127.010822; Ngày 30/6/2022 ông Lê Xuân B và bà Nguyễn Thị H1 ký với A “Hợp đồng thế chấp” số THH.BDDN 234.290622; Ngày 02/8/2022 bà Phạm Thị T1 ký với A Hợp đồng thế chấp số THH.BDDN.347.010622 thế chấp tài sản của mình để đảm bảo cho hợp đồng vay của Công ty đá với A

Nội dung của hợp đồng tín dụng; bản “Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung”; hợp đồng thế chấp và “Khế ước nhận nợ” các bên thỏa thuận về hạn mức vay, mục đích vay, lãi suất, nợ quá hạn và lãi suất phạt quá hạn, thời hạn có hiệu lực của hạn mức, phương thức giải ngân, kỳ hạn thanh toán, biện pháp bảo đảm, tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bảo đảm, phạm vi bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các bên ... Thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, giả tạo, không vi phạm điều cấm của luật; Tài sản bảo đảm thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp; Nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó các hợp đồng trên có hiệu lực.

[3] Về nội dung tranh chấp

[3.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ của A: A khởi kiện yêu cầu Công ty Đ trả cho A toàn bộ số nợ phát sinh từ các hợp đồng ín dụng mà Công ty Đ đã ký với A. Số tiền nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 6.018.029.725 (trong đó nợ gốc 5.148.634.406đ, nợ lãi trong hạn 46.869.041đ, lãi quá hạn 798.306.318đ, lãi chậm trả 24.219.960₫).

HĐXX xét, theo nội dung “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.1616.290622 ngày 30/6/2022; Bản “Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung” số THH.DN.1572.290622 và “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.2127.010822 ngày 03/8/2022 và các “Khế ước nhận nợ” ký kết giữa C và A, A đã giải ngân cho Công ty Đ vay 6 lần, tổng số tiền gốc Công ty Đ nhận nợ A là 5.740.000.000đ. Công ty Đ đã trả cho A một phần nợ gốc và nợ lãi. Tuy nhiên từ tháng 9/2023 Công ty Đ không trả đủ nợ gốc và lãi cho A theo thỏa thuận. Tại bản tự khai và phiên hòa giải A và ông Lê Xuân B (Đại diện theo pháp luật của C) thống nhất: Tính đến ngày 19/7/2024 công ty cổ phần Đ còn nợ Ngân hàng Á là 5.849.670.480 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 5.148,634.406 đồng, lãi trong hạn 46.869.041 đồng, lãi quá hạn 638.425.969 đồng, phạt chậm trả lãi 15.741.064 đồng. Như vậy công ty Đ đã không thực hiện trả nợ cho A đúng hạn là vi phạm thỏa thuận về trả nợ gốc và lãi quy định tại Điều 3 Hợp đồng cấp tín dụng và mục 5.1 Điều 5 bản “Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung” và các kế ước nhận nợ (Bộ phận không tách rời của hợp đồng cấp tín dụng).

Vì vậy A yêu cầu Công ty Đ trả toàn bộ nợ nêu trên đồng thời yêu cầu công ty đá tiếp tục chịu lãi theo mức lãi của hợp đồng kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thực trả hết nợ cho A là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên tại “Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức”, “Khế ước nhận nợ” đã ký; Phù hợp quy định tại Điều 4, 5, 6, 7 - bản “Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung”; Điều 91, 95 - Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466, 468 - BLDS và Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên HĐXX chấp nhận.

[3.2] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Đ phải trả toàn bộ số nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp Công ty Đ không trả hoặc trả không đầy đủ số nợ trên thì A có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo các “Hợp đồng thế chấp” giữa ông B bà H1 với A và giữa bà T1 với A để thu hồi nợ

Yêu cầu của A phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 8, 12 Hợp đồng thế chấp; đúng quy định tại Điều 299; Điều 301; khoản 6 Điều 320; khoản 5 Điều 323- BLDS do đó HĐXX chấp nhận.

Đối với tài sản thế chấp của bà Phạm Thị T1, thực tế có căn nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất thế chấp, thuộc sở hữu của bà T1, không đưa vào nội dung hợp đồng thế chấp. Do đó áp dụng khoản 1 Điều 325 - BLDS để xử lý tài sản thế chấp.

[3.3] Đối với yêu cầu buộc ông B, bà H1, bà T1, ông S chịu trách nhiệm trả nợ: A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B, bà H1, bà T1, ông S liên đới chịu trách nhiệm trả cho A số nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng của công ty Đ với A.

HĐXX xét, tại “Giấy cam kết về việc trả nợ” các ngày 30/6 và 03/8/2022 ông B, bà H1, bà T1, ông S cam kết nội dung “nhận trách nhiệm trả nợ thay cho công ty Đ trong trường hợp Công ty đá không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho A”. Cam kết của các bên là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật; Yêu cầu của A là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu đòi nợ của A được Tòa án chấp nhận vì vậy Công ty Đ phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại Điều 24; khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 và thỏa thuận của các bên tại Điều 10 Hợp đồng thế chấp

Dành quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 - BLTTDS.

Điều 299; Điều 301; khoản 3 Điều 318; khoản 6 Điều 320; khoản 5 Điều 323; khoản 1 Điều 325; Điều 463; Điều 466; 468 - Bộ luật dân sự.

Điều 91; 95 - Luật các tổ chức tín dụng

Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 24; khoản 2 Điều 26 - NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Á. Buộc Công ty cổ phần Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á toàn bộ số nợ của “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.1616.290622 ngày 30/6/2022 và “Hợp đồng cấp tín dụng” số THH.DN.2127.010822 ngày 03/8/2022 đã ký giữa C và A. Số nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 6.018.029.725₫ (Sáu tỷ không trăm mười tám triệu không trăm hai chín ngàn bảy trăm hai lăm đồng). Trong đó nợ gốc 5.148.634.406đ, nợ lãi trong hạn 46.869.041đ, lãi quá hạn 798.306.318đ, lãi chậm trả 24.219.960₫.

Đồng thời Công ty cổ phần Đ phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng (nêu trên) kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi Công ty cổ phần Đ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Á.

Trường hợp Công ty cổ phần Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ trên cho Ngân hàng TMCP Á thì Ngân hàng TMCP Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp gồm:

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số lô 1066, tờ bản đồ số MBQH 530; địa chỉ: Lô S M, phường Đ, thành phố T; Giấy chứng nhận QSDĐ số BT136689 do UBND thành phố T cấp ngày 08/5/2014 mang tên ông Lê Xuân B bà Nguyễn Thị H1. Và Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa: số lô 1067; tờ bản đồ số: MBQH 530, địa chỉ: Lô S M, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận QSDĐ số BT087472 do UBND thành phố T cấp ngày 03/3/2014 mang tên ông Lê Xuân B. (Theo Hợp đồng thế chấp số THH.BDDN 234.290622 ngày 30/6/2022 giữa ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1 và A).
  • - Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 90; tờ bản đồ số 12; địa chỉ: C đường N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận QSDĐ số DE 600751 do Sở TNMT cấp ngày 24/6/2022 mang tên bà Phạm Thị T1. (Theo Hợp đồng thế chấp số THH.BĐDN.347.010822 ngày 02/8/2022 giữa bà Phạm Thị T1 với A) để thu hồi toàn bộ tiền nợ gốc và lãi phát sinh của các hợp đồng tín dụng đã ký.

Trường hợp công ty cổ phần Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ (nêu trên) Buộc ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1; Bà Phạm Thị T1, ông Lê Tiến S liên đới chịu trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền mà công ty Đ còn nợ Ngân hàng TMCP Á.

Ngân hàng TMCP Á có quyền lựa chọn thứ tự yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo đảm trên (gồm: biện pháp xử lý tài sản thế chấp; biện pháp yêu cầu ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1; Bà Phạm Thị T1, ông Lê Tiến S liên đới chịu trách nhiệm thanh toán nợ) để xử lý thu hồi nợ

Về án phí: Công ty cổ phần Đ phải chịu 132.180.297đ tiền án phí KDTM có giá nghạch. Ngân hàng TMCP Á không phải chịu án phí và được nhận lại 56.637.826đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001203 ngày 06/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.

Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Á có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Công ty Cổ phần Đ, ông Lê Xuân B, bà Nguyễn Thị H1, bà Phạm thị T2, ông Lê Tiến S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP . Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/KDTM-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A - Công ty Đ (Tranh chấp HĐTD)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger