Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/KDTM-ST

Ngày: 19/9/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Dương Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Cường; Bà Nguyễn Thị Thu Sương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 04/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 547/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 662/2024/QĐST-KDTM ngày 22/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên L. Địa chỉ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Tầng C, Tháp Sarimi B, số G N, phường A, thành phố T, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Lê Thanh Hạo N – Chủ tịch công ty TNHH Một thành viên L. Địa chỉ liên hệ: số G, N, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thanh Hạo N: Ông Huỳnh Đăng S – Phụ trách pháp lý công nợ của Công ty TNHH Một thành viên L (Theo giấy ủy quyền số 11/UQ-LTVB ngày 01/01/2024).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Đăng S:

  • + Ông Trương Công T, chức vụ: Chuyên viên pháp lý của Công ty TNHH Một thành viên L (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • + Ông Mai Hùng C, chức vụ Chuyên viên pháp lý của Công ty TNHH Một thành viên L (Vắng mặt);

Ông T và ông C cùng địa chỉ liên hệ: Tầng C, Tháp Sarimi B, số G N, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 95/UQ-LTVB ngày 29/01/2024).

- Bị đơn: Hợp tác xã N1. Địa chỉ: Tổ A, khóm V, thị trấn V (trước đây là ấp V, xã V), huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê Hoài T1, chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã N1. Địa chỉ liên hệ: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/01/2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 11/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và đại diện nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên L trình bày:

Ngày 01/10/2020, nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên L (sau đây trong bản án này gọi tắt là Công ty L) có ký Hợp đồng liên kết sản xuất lúa số 01-AG05/KVAG1-V3/HD-LKSX (sau đây gọi tắt là Hợp đồng 01) và các Phụ lục số 1, Phụ lục số 2, Phụ lục số 3 hợp đồng liên kết sản xuất lúa về việc liên kết sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm 2020 - 2021 ngày 01/11/2020 (sau đây gọi tắt là Phụ lục 1, Phụ lục 2, Phụ lục 3) với bị đơn Hợp tác xã N1 (sau đây trong bản án này gọi tắt là HTX N1) để thực hiện liên kết sản xuất lúa trên địa bàn canh tác của các hộ nông dân thuộc HTX N1.

Theo đó, Công ty L sẽ cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp gồm: giống, thuốc bảo vệ thực vật và tạm ứng tiền giá trị lúa trước cho HTX N1 thông qua các phiếu mua hàng, HTX N1 chịu trách nhiệm tổ chức sản xuất lúa theo hướng dẫn, quy trình và phương thức quản lý của Công ty L. Khi thu hoạch, Công ty L sẽ thu mua lúa của HTX N1 và thanh toán tiền mua lúa cho HTX N1 sau khi trừ đi các khoản chi phí đầu tư vật tư nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp và các chi phí khác ban đầu. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, HTX N1 lại tự bán lúa tươi cho các đơn vị khác mà không thanh toán tiền lại cho Công ty L số tiền ứng 50% giá trị lúa đã nhận trước đó.

Ngày 01/4/2021, Công ty L đã làm việc với đại diện HTX N1, các bên đối chiếu sổ sách, công nợ theo đó HTX N1 đã xác nhận còn nợ Công ty L số tiền 5.410.731.435 đồng và cam kết sẽ thanh toán toàn bộ số tiền nợ cho Công ty L theo “Giấy xác nhận công nợ (TK 33130000) lập ngày 01/4/2021” (Sau đây gọi tắt là Giấy XNCN TK 33130000). Sau khi xác nhận công nợ, Công ty L đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu HTX N1 thanh toán số tiền đã chốt công nợ nhưng HTX N1 chỉ thanh toán được cho Công ty L một phần số tiền công nợ là 1.418.650.500 đồng, cụ thể: Ngày 10/4/2021 trả được 140.725.500 đồng; Ngày 19/4/2021 trả được 259.474.000 đồng; Ngày 29/4/2021 trả được 768.000.000 đồng; Ngày 10/8/2021 trả được 31.878.000 đồng; Ngày 11/01/2022 trả được 218.653.000 đồng. Kể từ ngày 12/01/2022, HTX N1 còn nợ lại Công ty L số tiền 3.992.100.935 đồng (Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng) đến nay vẫn chưa thanh toán.

Do đó, nguyên đơn Công ty L khởi kiện yêu cầu bị đơn HTX N1 có trách nhiệm trả cho Công ty L tổng số tiền nợ là: 4.857.056.138 đồng (Bốn tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu không trăm năm mươi sáu nghìn một trăm ba mươi tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 3.992.100.935 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng); lãi do chậm thanh toán tạm tính đến ngày 12/3/2024 (lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm) là: 864.955.203 đồng (Bằng chữ: Tám trăm sáu mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm lẻ ba đồng).

Ngoài ra, Công ty L yêu cầu HTX N1 phải trả tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 13/3/2024 đến khi HTX N1 hoàn thành mọi nghĩa vụ thanh toán với Công ty L với mức lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm.

Ngày 09/8/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện với nội dung nguyên đơn xin rút lại: yêu cầu trả lãi chậm thanh toán tính theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/3/2024 là 864.955.203 đồng (Bằng chữ: Tám trăm sáu mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm lẻ ba đồng) và yêu cầu trả tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền nợ gốc và mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 13/3/2024 cho đến khi HTX N1 thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ cho Công ty L. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 3.992.100.935 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cùng các văn bản tố tụng khác nhưng đại diện theo pháp luật của bị đơn vẫn vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ án cho Tòa án.

* Tòa án tiến hành xác minh tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện C được biết HTX Thanh Tâm có đăng ký kinh doanh được cấp phép ngày 11/11/2019 và đến nay chưa có thông tin về đăng ký giải thể. Tuy nhiên qua xác minh thực tế tại địa chỉ trụ sở của HTX N1 tại khóm V (trước đây là ấp V cũ), thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang được biết hiện nay HTX N1 đã ngưng hoạt động và ông Lê Hoài T1 không còn sinh sống tại địa chỉ trên.

* Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trương Công T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Kèm theo đơn xin xét xử vắng mặt, ông T gửi Bản tự khai đề ngày 16/9/2024 với nội dung nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, buộc HTX N1 chịu trách nhiệm thanh toán cho Công ty L số tiền 3.992.100.935 đồng, rút lại yêu cầu đối với tiền lãi chậm thanh toán.

- Đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt, không có lý do.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng về thời hạn chuẩn bị xét xử, từ khi thụ lý vụ án đến ngày ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử là 04 tháng 07 ngày là quá thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng chưa ban hành quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử là chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, cần rút kinh nghiệm. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn là chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 116, 117, 119, 351, 385, 398, 401, Điều 504 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty L đối với HTX N1; Buộc HTX N1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty L số tiền nợ 3.992.100.935 đồng; Đình chỉ yêu cầu tính lãi của Công ty L đối với HTX N1 về việc yêu cầu trả số tiền lãi 864.955.203 đồng và số tiền lãi từ ngày 13/3/2024 theo mức lãi suất 10%/năm trên số tiền nợ gốc cho đến khi HTX N1 thanh toán xong toàn bộ số nợ. Về án phí sơ thẩm: Đề nghị buộc HTX N1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Công ty L khởi kiện yêu cầu bị đơn HTX N1 thanh toán số tiền nợ còn lại phát sinh từ hợp đồng liên kết sản xuất lúa giữa nguyên đơn với bị đơn nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”. Bị đơn HTX N1 có địa chỉ trụ sở tại xã V (nay là thị trấn V), huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

[1.2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, trong đó đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.3] Về phạm vi khởi kiện:

Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền nợ là: 4.857.056.138 đồng (Bốn tỷ tám trăm năm mươi bảy triệu không trăm năm mươi sáu nghìn một trăm ba mươi tám đồng), trong đó tiền nợ gốc là: 3.992.100.935 đồng; lãi do chậm thanh toán tạm tính đến ngày 12/3/2024 là: 864.955.203 đồng. Đồng thời, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi tính từ ngày 13/3/2024 đến khi bị đơn hoàn thành mọi nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn theo mức lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm.

Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện với nội dung nguyên đơn xin rút lại: yêu cầu trả số tiền lãi tính từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/3/2024 là 864.955.203 đồng và yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 13/3/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ cho nguyên đơn. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 3.992.100.935 đồng.

Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc trả tiền lãi, chỉ yêu cầu trả tiền nợ gốc là tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 5, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/3/2024 là 864.955.203 đồng và yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 13/3/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ cho nguyên đơn. Đồng thời, chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền nợ còn lại 3.992.100.935 đồng.

[1.4] Về xác định chứng cứ trong vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 3.992.100.935 đồng phát sinh từ “Hợp đồng số 01” và các “Phụ lục số 1, số 2, số 3” và “Giấy XNCN TK 33130000” được ký kết giữa Công ty L và HTX N1, có chữ ký họ tên của người đại diện HTX N1 là ông Lê Hoài T1 và đóng dấu tròn của HTX N1. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn, trong đó có nêu rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, đại diện hợp pháp của bị đơn không có ý kiến phản đối hay có yêu cầu gì khác nên thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 92, Điều 93 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, xác định chứng cứ trong vụ án là “Hợp đồng số 01” và “Phụ lục số 1, Phụ lục số 2, Phụ lục số 3” và “Giấy XNCN TK 33130000” được ký kết giữa Công ty L và HTX N1, cùng các phiếu nhận hàng, hoá đơn giá trị gia tăng, giấy xác nhận công nợ khác do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu do Tòa án thu thập được để làm cơ sở xem xét, giải quyết vụ án theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn Công ty L khởi kiện yêu cầu bị đơn HTX N1 chịu trách nhiệm trả cho Công ty L số tiền nợ 3.992.100.935 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng) phát sinh từ Hợp đồng số 01 cùng Phụ lục số 1, số 2, số 3 và Giấy XNCN TK 33130000 được ký kết giữa đại diện nguyên đơn Công ty L và đại diện của bị đơn HTX N1. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn và tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và mở phiên toà để đại diện hợp pháp của bị đơn có ý kiến trình bày về vụ án, đồng thời tạo điều kiện cho các bên hòa giải, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng đại diện hợp pháp của bị đơn vẫn vắng mặt, không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ án, cho thấy bị đơn đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình, cũng như không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên thuộc trường những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92, Điều 93 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đồng thời, Toà án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào nội dung của Hợp đồng số 01, các Phụ lục số 1, số 2, số 3 ngày 01/11/2020 và các tài liệu, chứng cứ như phiếu nhận hàng, chứng từ hoạch toán, hoá đơn giá trị gia tăng và giấy xác nhận công nợ do nguyên đơn cung cấp, qua đó có cơ sở xác định: Giữa nguyên đơn Công ty N1 xác lập hợp đồng dân sự, cụ thể là cùng nhau hợp tác sản xuất lúa nông nghiệp, trên cơ sở tự nguyện thoả thuận, nội dung, hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 116, 117, 118, 119, 385, 398, 401, 403 và 504 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và điểm c khoản 2 Điều 38 của Luật Hợp tác xã năm 2012 nên được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

Xét thấy, theo nội dung thoả thuận, Công ty L sẽ cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp gồm giống, thuốc bảo vệ thực vật và tạm ứng tiền giá trị lúa trước cho HTX N1, HTX N1 chịu trách nhiệm tổ chức sản xuất lúa theo hướng dẫn, quy trình và phương thức quản lý của Công ty L. Khi thu hoạch, Công ty L sẽ thu mua lúa của HTX N1 và thanh toán tiền mua lúa cho HTX N1 sau khi trừ đi các khoản chi phí đầu tư vật tư nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp và các chi phí khác ban đầu. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, HTX N1 tự bán lúa tươi cho các đơn vị khác mà không phải là Công ty L nhưng lại không thanh toán tiền lại cho Công ty L số tiền ứng 50% giá trị lúa đã nhận trước đó.

Sau khi hai bên đối chiếu công nợ, HTX N1 đã xác nhận còn nợ Công ty L số tiền 5.410.731.435 đồng và cam kết sẽ thanh toán toàn bộ số tiền nợ cho Công ty L theo Giấy XNCN TK 33130000 lập ngày 01/4/2021 nhưng HTX N1 chỉ thanh toán được cho Công ty L được tổng số tiền là 1.418.650.500 đồng, cụ thể như nội dung vụ án đã nêu.

Kể từ ngày 12/01/2022, HTX N1 còn nợ lại Công ty L số tiền 3.992.100.935 đồng (Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng) đến nay vẫn chưa thanh toán.

Do bị đơn HTX N1 đã vi phạm nghĩa vụ theo khoản 2 Điều 8 của Hợp đồng số 01 nên nguyên đơn Công ty L khởi kiện yêu cầu bị đơn HTX N1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ còn lại là: 3.992.100.935 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng) là có căn cứ và có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 275, 280, 351, 504, 507 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn HTX N1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty L số tiền còn nợ là 3.992.100.935 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).

[2.2] Về yêu cầu tính lãi:

Như đã nêu tại phần phạm vi khởi kiện, do nguyên đơn có yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện với nội dung xin rút lại: yêu cầu trả số tiền lãi tính từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/3/2024 là 864.955.203 đồng và yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 13/3/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ cho nguyên đơn.

Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc trả tiền lãi nêu trên là tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/3/2024 là 864.955.203 đồng và yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 13/3/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ là phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2.3] Do bị đơn bị buộc nghĩa vụ trả tiền nên căn cứ vào Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

[2.4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn HTX N1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định là 111.842.000 đồng (làm tròn từ 111.842.019 đồng).

Nguyên đơn Công ty L không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 56.429.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005414 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 275, Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 385, Điều 401, Điều 403, Điều 504, Điều 507 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên L đối với bị đơn Hợp tác xã N1:
  2. Buộc bị đơn Hợp tác xã N1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên L số tiền 3.992.100.935 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm chín mươi hai triệu một trăm nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên L đối với bị đơn Hợp tác xã N1 về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/3/2024 là 864.955.203 đồng (Bằng chữ: Tám trăm sáu mươi bốn triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm lẻ ba đồng) và yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 13/3/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ.
  4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
  5. Về án phí sơ thẩm:
  6. Buộc Hợp tác xã N1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 111.842.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

    Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên L số tiền tạm ứng án phí 56.429.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005414 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

  7. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát ND HCP;
  • - Tòa án tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án DS HCP;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng .

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thái Dương Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/KDTM-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Số bản án: 09/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty L khởi kiện yêu cầu HTX TT trả tiền cung ứng lúa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger