Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày 07-08-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Hải Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Xuân Chính.
  • Bà Lồ Củi Thuỷ.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quốc Vương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Thào Văn Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/HSST, ngày 29 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXX - HS, ngày 25/07/2024 đối với các bị cáo:

  1. Giàng Chá M, sinh ngày 15/02/1996 tại xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú tại: thôn P, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Phù Lá; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Giàng Mìn Phù, sinh năm 1973 (Đã chết) và bà Giàng Sín S sinh năm 1971 hiện bà S trú tại thôn P, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Có vợ là Giàng Thị M1, sinh năm 1999 và có 03 con lớn sinh năm 2014 nhỏ sinh năm 2023. Hiện cư trú tại thôn P, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt tại phòng trực tuyến công an huyện M, tỉnh Lào Cai.

  2. Vàng Seo Choà, sinh ngày 01/9/1996 tại xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú tại: thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Vàng Văn D, sinh năm 1968, hiện đang cải tạo tại Trại giam Công an tỉnh Đ và bà Hảng Seo D1, sinh năm 1977; thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Có vợ là Ma Seo S1, sinh năm 1998 và có hai con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017. Hiện cư trú tại thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày ngày 28/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt tại phòng trực tuyến Công an huyện M, tỉnh Lào Cai.

  3. Vàng Seo Tú, sinh ngày 05/6/2003 tại xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú tại: thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Vàng Văn D, sinh năm 1968, hiện đang cải tạo tại Trại giam Công an tỉnh Đ và bà Hảng Seo D1, sinh năm 1977; thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Hiện bị cáo đang bị áp dụng Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phòng trực tuyến Công an huyện M, tỉnh Lào Cai.

- Tại điểm cầu Trung tâm của phiên toà trực tuyến:

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Giàng Thị M1, sinh năm 1999; Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Chị Vàng Thị D2, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn C, xã B, huyện M, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
  2. Lùng Thị H sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn L, xã L, huyện M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  3. Chị Lù Thị M2, sinh năm 1984; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  4. Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố N- H, thị trấn M, huyện M, tỉnh lào Cai. Vắng mặt.
  5. Chị Lùng Ty H1, sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn N, xã L, huyện M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Tại điểm cầu thành phần: Phòng trực tuyến Công an huyện M

  • - Bị cáo Giàng Chá M.
  • Người bào chữa cho bị cáo Giàng Chá M: Bà Nguyễn Thị Thu H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T3. Có mặt.
  • - Bị cáo: Vàng S, Vàng Seo T.
  • Người bào chữa cho bị cáo Vàng Seo C và bị cáo Vàng Seo T: Bà La Thị Huyền T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai. Có mặt.
  • Người tiến hành tố tụng: - Ông Nhâm Đình M3 – Thư ký Toà án.
  • Ông Trần Văn H3 - Kiểm sát viên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2019, Vàng Thị D2 xuất cảnh bằng sổ thông hành sang Trung Quốc làm thuê tại tỉnh Hồ Nam, đến tháng 01/2024 D2 có ý định về Việt Nam để làm căn cước công dân và thăm thân. Do giấy tờ hết hạn để nhập cảnh hợp pháp nên D2 đã liên hệ và rủ được Lù Thị M2 (Xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc từ năm 2018), Lùng Thị H (Xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc từ năm 2020), sau đó H rủ thêm Hoàng Thị L (Xuất cảnh bằng sổ thông hành sang Trung Quốc từ năm 2020) và Nùng Ty H4 (Xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc từ năm 2012) đều là những người Việt Nam đang sinh sống và làm thuê ở bên Trung Quốc để về Việt Nam, những người này đều đồng ý.

Qua ứng dụng W, D2 gọi cho một người đàn ông Trung Quốc tên "H5", người này giới thiệu D2 kết bạn với Giàng Chá M để liên hệ. Ngày 31/01/2024, D2 gọi W đặt vấn đề với M tìm cách đưa D2 cùng 04 người phụ nữ từ khu vực M, Trung Quốc về Việt Nam, D2 sẽ trả tiền công. M đồng ý và gọi điện cho V Seo Chòa bảo C liên hệ với người Trung Quốc để đón đưa người từ Trung Quốc về Việt Nam qua khu vực biên giới huyện M, tỉnh Lào Cai, tiền công thu được sẽ chia nhau. C đồng ý và liên hệ qua mạng Wechat với người đàn ông Trung Quốc tên "Lìn" quen biết từ trước đặt vấn đề đón 05 người phụ nữ Việt Nam ở khu vực M, Trung Quốc đưa về khu vực biên giới xã P, huyện M, "Lìn" đồng ý và nói một chuyến xe chở 05 người "Lìn" thu 2.300 NDT (CNY). C nói lại cho M, M bàn với C sẽ lấy tiền công mỗi người là 1.300 NDT, C đồng ý. Mìn điện thoại nói cho D2 biết đã tìm được người Trung Quốc đón và đưa ra biên giới, tiền công mỗi người phải trả là 1.300 NDT, trong đó tiền công trả cho người bên Trung Quốc là 2.300 NDT, số tiền còn lại là của những người đi đón bên Việt Nam, D2 đồng ý và nói lại cho những người cùng về biết. Sau khi thống nhất được với D2, M thông báo cho C để C thông báo cho "Lìn", "Lìn" nói với C khi nào tìm được lối về Việt Nam sẽ báo lại.

Sáng ngày 03/02/2024, "Lìn" gọi W thông báo cho C đã tìm được lối về Việt Nam qua khu vực biên giới Việt - T gần thôn T, xã P, huyện M, tỉnh Lào Cai, bảo C gửi số điện thoại của người muốn về để "Lìn" liên lạc đón. C bảo M gửi tài khoản Wechat của D2 để C gửi cho "Lìn" liên hệ đón D2 cùng 04 người phụ nữ đi cùng. Chiều ngày 03/02/2024, "Lìn" đón được 05 người phụ nữ từ M, Trung Quốc và thông báo cho C khoảng 20 giờ sẽ đến nơi, C gọi điện thông báo cho M và bảo M rủ thêm người mới chở hết, M bảo không tìm được, C bảo rủ thêm Vàng Seo Tú em trai C cùng đi đón, M đồng ý và thống nhất chia cho T 300 NDT. Sau khi ăn cơm tối xong, C bảo T đi cùng đến khu vực biên giới xã P, huyện M, tỉnh Lào Cai để đón 05 người phụ nữ nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc về Việt Nam, Chòa chia tiền công cho, T đồng ý.

Khoảng 19 giờ ngày 03/02/2024, C điều khiển xe mô tô Exciter, BKS 24B2 – 096.90, M điều khiển xe mô tô Wave RSX, BKS 24B2 – 995.41, T điều khiển xe mô tô Honda Winner X, BKS 24HB – 171.77 đi đón người. Trên đường đi, "Lìn" gọi điện cho C thông báo đưa 05 người phụ nữ gần đến nơi rồi và bảo C khi đến thấy có bóng đèn điện sáng thì đón người ở đó. Khi M, C và T đi đến cách hàng rào biên giới khoảng 01 km thì dừng xe lại, T ở lại trông xe, còn C, M đi bộ theo đường mòn hướng về hàng rào biên giới, khi cách khoảng 300 mét thì M ở lại đợi, C một mình đi đến hàng rào biên giới chỗ có cột đèn sáng thì thấy "Lìn", Vàng Thị D2, Lù Thị M2, Lùng Thị H, Hoàng Thị L và Nùng Ty H4 đang ở bên kia hàng rào biên giới phía Trung Quốc.

“Lìn” kéo thanh sắt ngang trên hàng rào để tạo khoảng trống, 05 người phụ nữ lần lượt chui qua hàng rào sang Việt Nam, D2 lấy 2.300 NDT đưa cho C rồi C đưa tiền cho "Lìn", "Lìn" cầm tiền quay về phía Trung Quốc, còn C dẫn 05 người phụ nữ này đi đến chỗ M rồi cùng M đi đến chỗ để xe mô tô T đứng đợi. Sau đó, C chở D2 đi trước, M chở H và L, T chở M2 và H4 đi sau ra thị trấn M. Khi đến thị trấn M, H, H4, L, M2 góp tiền đưa cho M tổng số 4.200 NDT, D2 nói không có tiền về xin Mìn 200 NDT, M đồng ý và cho D2 200 NDT. Sau đó, 05 người phụ nữ trên đi về nhà, còn M, C, T đi về nhà C, M đưa cho C 2.200 NDT là tiền công của C và T, còn M giữ lại 1.800 NDT, Chòa chia cho T 500 NDT (Cho thêm 200 NDT), T bảo C cầm đi đổi cho T. Ngày hôm sau, C đi đổi sang tiền Việt Nam đưa cho T 1.500.000 đồng, còn C giữ 6.046.000 đồng, Giàng Chá M đổi được 6.156.000 đồng. Đến ngày 05/02/2024, hành vi của Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T bị phát hiện bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 23/CT - VKS - P1 ngày 28 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T phạm tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo: Giàng Chá M từ 6 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng đến 7 (Bảy) năm tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo: Vàng Seo Choà từ 6 (Sáu) năm đến 6 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo: Vàng Seo Tú từ 5 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng đến 06 (Sáu) năm tù.
  • Về hình phạt bổ xung: xét thấy các Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có công ăn việc làm ổn định, gia đình các bị cáo là hộ nghèo và cận nghèo của xã nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước những công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào thực hiện tội phạm và số tiền thu lợi bất chính gồm:
    • 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xám đỏ, BKS 24B2 - 995.41; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng; tiền Việt Nam: 6.156.000 đồng tạm giữ của bị cáo Giàng Chá M,
    • 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 24B2 - 096.90; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh; tiền Việt Nam: 6.046.000 đồng, tạm giữ của Vàng S.
    • 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winer X, BKS 24HB - 171.77; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng; tiền Việt Nam: 1.500.000 đồng. tạm giữ của Vàng Seo T.

Về án phí: Bị cáo Giàng Chá M có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm và người bào chữa cho bị cáo cung cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo nên cần miễn án phí cho bị cáo. Đối với các bị cáo Vàng Seo C, Vàng Seo T người bào chữa cũng cung cấp Giấy chứng nhận hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thừng vụ Quốc Hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo là phù hợp.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng Chá M là bà Nguyễn Thị Thu H2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì: bị cáo M là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, sự nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế. bị cáo Giàng Chá M, sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo là hộ nghèo của xã. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 của Bộ Luật hình sự, tuyên phạt Giàng Chá M mức án 05 (Năm) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Người bào chữa cho các bị cáo Vàng Seo C là bà La Thị Huyền T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì: các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa sự nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế. Bị cáo Vàng Seo C, sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo là hộ cận nghèo của xã. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 của Bộ Luật hình sự, tuyên phạt Vàng Seo Choà mức án từ 05 (Năm) năm về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Người bào chữa cho bị cáo Vàng Seo T là bà La Thị Huyền T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa sự nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế. Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo là hộ cận nghèo của xã. Nên đề nghị hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 2 Điều 54; Điều 17, 58 của Bộ Luật hình sự đề nghị tuyên phạt Vàng Seo T với mức án 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép".

Đại diện Viện kiểm sát xác định mức hình phạt do những người bào chữa cho các bị cáo đề nghị là nhẹ nên giữ nguyên quan điểm và đề nghị của mình.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T mức án là Phù hợp còn người bào chữa cho các bị cáo Giàng Chá M, Giàng Seo C1 đề nghị về hình phạt là thấp vì khung hình phạt tại điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật hình sự quy định “Đối với từ 05 người đến 10 người” “Thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm” Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của trợ giúp viên bào chữa cho các bị Cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C2 là không phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo Giàng Seo T2 đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự là không phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy đề nghị của vị Đại diện viện kiểm sát về mức hình phạt của ba bị cáo là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Qua lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở xác định:

Ngày 03/02/2024, các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T đã thực hiện hành vi tổ chức đón, đưa 05 người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam với mục đích lấy tiền tiêu sài cá nhân và các bị cáo hám lợi nên đã bị bắt giữ.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T ra trước Tòa án nhân dân huyện Mường Khương để xét xử về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật. Các bị cáo đều có khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật, nhưng với mục đích cá nhân, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh và gây mất trật tự, an ninh, chính trị ở địa phương. Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 23/CT - VKS - P1 ngày 28/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T về tội danh và điều luật như viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Chúng ta biết rằng việc xuất nhập cảnh ra, vào Việt Nam có liên quan chặt chẽ đến việc bảo vệ an ninh đất nước và trật tự an toàn xã hội. Do đó hoạt động xuất nhập cảnh được thực hiện bởi các quy định chặt chẽ của pháp luật, mọi hành vi xâm phạm phải bị xử lý nghiêm khắc. Tuy nhiên các bị cáo đã tổ chức cho 05 người nhập cảnh trái phép. Hành vi này là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến công tác bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền quốc gia của nước láng giềng. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án này, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn vai trò đầu thuộc về Giàng Chá M là người trực tiếp trao đổi thoả thuận với Vàng Thị D2 về giá tiền công, là người rủ rê, bàn bạc thống nhất với Vàng S để đón 05 người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, quá trình thực hiện tội phạm rất tích cực được hưởng lợi 1.800 NDT, tương đương 5.760.000 đồng, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.

Bị cáo Vàng Seo C sau khi được Giàng Chá M rủ rê thực hiện tội phạm đã đồng ý và là người trực tiếp trao đổi, thỏa thuận với người đàn ông Trung Quốc về việc tổ chức cho 05 người nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc về Việt Nam, là người trực tiếp rủ em trai là V Seo Tú đi đón người nhập cảnh trái phép, quá trình thực hiện tội phạm rất tích cực, được hưởng lợi 1.700 NDT, tương đương 5.440.000 đồng. Vì vậy, Vàng Seo C là người giữ vai trò thứ hai sau Mìn.

Đối với bị cáo Vàng Seo T là người được Vàng Seo C rủ đi đón người nhập cảnh trái phép và được hứa sẽ trả tiền công, T nhất trí và trực tiếp cùng với Giàng Chá M, Vàng Seo C đi đón 05 người nhập cảnh trái phép và được C và M trả 500 NDT, tương đương 1.600.000 đồng. Vì vậy, Vàng Seo T đồng phạm với Giàng Chá MVàng Seo C với vai trò sau cùng.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Giàng Chá M trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự. bị cáo M là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự để giải quyết là phù hợp.

Bị cáo Vàng Seo C trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự. bị cáo C là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo C có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự để giải quyết là phù hợp.

Bị cáo Vàng Seo T trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự. bị cáo T là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn.Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự để giải quyết là phù hợp.

- Đối với người đàn ông Trung Quốc tên "H5" là người giới thiệu cho Vàng Thị D2 liên hệ với Giàng Chá M để M tổ chức cho D2 và 04 người phụ nữ đi cùng nhập cảnh trái phép. Do D2 và Giàng Chá M không biết thông tin cụ thể về người đàn ông tên "Huy" này nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L không xác minh làm rõ được.

- Đối với người đàn ông Trung Quốc tên "Lìn" là người đón và đưa 05 người phụ nữ từ M, Trung Quốc ra khu vực biên giới thôn T, xã P, huyện M, tỉnh Lào Cai để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, được trả tiền công 2.300 CNY (NDT). Do D2Vàng Seo C không biết thông tin cụ thể về người đàn ông tên "Lìn" này nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L điều tra không xác minh làm rõ được.

- Đối với Vàng Thị D2, Lùng Thị H, Nùng Ty H4, Hoàng Thị LLù Thị M2 là những người được Giàng Chá M, Vàng Seo CVàng Seo T tổ chức cho nhập cảnh trái phép ngày 03/02/2024. Quá trình điều tra xác định, Vàng Thị D2, Lùng Thị H, Nùng Ty H4, Hoàng Thị LLù Thị M2 chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đã chuyển tài liệu cùng đồ vật tài sản bị tạm giữ (Mỗi người 01 điện thoại) cho Phòng Q Công an tỉnh L để xử lý hành chính theo quy định là đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về xử lý vật chứng: Thu giữ của Giàng Chá M: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xám đỏ, BKS 24B2 - 995.41; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng; tiền Việt Nam: 6.156.000 đồng. Đối với chiếc xe máy trên M dùng vào việc chở người nhập cảnh trái phép đó là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước. Chiếc điện thoại trên Giàng Chá M sử dụng để liên lạc tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước. Còn số tiền 6.156.000 đồng thu giữ của Mìn đó là tiền công đưa người từ Trung Quốc về Việt Nam cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Thu giữ của Vàng Seo C : 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 24B2 - 096.90; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh; tiền Việt Nam: 6.046.000 đồng. Đối với chiếc xe máy trên C dùng vào việc chở người nhập cảnh trái phép đó là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước. Chiếc điện thoại trên Vàng S sử dụng để liên lạc tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Còn số tiền 6.046.000 đồng thu giữ của Choà đó là tiền công đưa người từ trung quốc về việt nam cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Thu giữ của Vàng Seo T: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winer X, BKS 24HB - 171.77; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng; tiền Việt Nam: 1.500.000 đồng. Đối với chiếc xe máy trên T dùng vào việc chở người nhập cảnh trái phép đó là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng bản thân T sử dụng dể liên lạc để đón người từ Trung quốc về Việt Nam cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. đối với số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của T đó là tiền công đưa người từ Trung Quốc về việt nam cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Nên căn cứ điểm a,b khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết.

[5].Về hình phạt bổ xung: xét thấy các Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có công ăn việc làm ổn định gia đình các bị cáo là hộ nghèo và hộ cận nghèo của xã nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[6].Về án phí: Bị cáo Giàng Chá M có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm và người bào chữa cho bị cáo cung cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo nên cần miễn án phí cho bị cáo. Đối với các bị cáo Vàng Seo C, Vàng S3 tú người bào chữa cũng cung cấp Giấy chứng nhận hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thừng vụ Quốc Hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
    1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt Giàng Chá M 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 28/02/2024.
    2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17,58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt Vàng Seo C 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 28/2/2024.
    3. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17,58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt Vàng Seo T 05 (năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hành án.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xám đỏ, BKS 24B2 - 995.41, số khung RLHJA 385XLY042300, số máy: JA52E018174; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng số IMEI:352848114509132; tiền Việt Nam 6.156.000 đồng. thu giữ của Giàng Seo M4.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 24B2 - 096.90, số khung: RLCUG0610GY388183, số máy: G3D4E407298; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh, số IMEI!: 862173063688974, số IMEI2: 862173063688966; tiền Việt Nam: 6.046.000 đồng thu giữ của Vàng Seo Choà.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winer X, BKS 24HB - 171.77, số khung: RLHKC4411NY681280, số máy: KC34E5091916; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, số IMEEI: 357262099638319; tiền Việt Nam: 1.500.000 đồng, thu giữ của Vàng S. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/05/2024 giữa Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
    • Tổng số tiền thu lợi của ba bị cáo là 13.702.000 đồng hiện đã được nộp tiền vào tài khoản số: 3949.0.9051175 ngày 20 tháng 05 năm 2024 của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh L đã nộp vào tài khoản tạm giữ tại kho bạc nhà nước tỉnh L.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Giàng Chá M, Vàng Seo C, Vàng Seo T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND T.Lào Cai;
  • - VKSND huyện Mường Khương;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Công an tỉnh Lào cai;
  • - Công an huyện Mường Khương (2);
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện MK;
  • - Sở tư pháp;
  • - Các Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: HS; THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hải Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giàng Chá Mìn cùng đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger