|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/DS-ST Ngày 16-5-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Ngát
- Bà Nguyễn Thị Bắc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên;
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLST-DS, ngày 26 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1974. Vắng mặt
- Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện theo ủy quyền của bà V: Bà Trần Thị L, sinh năm 1961. Có mặt.
- Địa chỉ: Tổ dân phố số D, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Bà Chu Thị H, sinh năm 1980. Có mặt
- Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1976. Vắng mặt
- Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, đại diện nguyên đơn là bà Trần Thị L trình bày: Ngày 05/4/2011, bà Trần Thị V có cho vợ chồng bà Chu Thị H và ông Bùi Văn H1 vay số tiền 30.000.000đ, hẹn khi nào cần thì báo trước mấy hôm sẽ trả. Việc vay mượn hai bên có lập thành văn bản là giấy vay tiền, bà H1 có ký vào giấy. Từ đó đến nay, bà V đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng bà H1 phải trả tiền trên nhưng vợ chồng bà H1 khất lần không trả. Nay, bà V đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, buộc vợ chồng bà Chu Thị H và ông Bùi Văn H1 trả cho bà V số tiền 30.000.000đ tiền gốc. Bà V không yêu cầu về lãi xuất.
Số tiền 30.000.000đ cho vợ chồng bà H1 vay hoàn toàn là tài sản của cá nhân bà V, không liên quan đến ai khác. Mặc dù giấy vay tiền chỉ có bà Chu Thị H ký tên nhưng việc vay tiền ông Bùi Văn H1 có biết, việc vay mượn là để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế gia đình bà H1 nên bà V yêu cầu cả hai vợ chồng bà H1 cùng phải chịu trách nhiệm trả nợ.
Tài liệu chứng cứ bà V giao nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm: bản sao căn cước công dân, 01 giấy vay tiền đề ngày 05/4/2011, là chữ viết tay trên mẫu giấy vay tiền được đánh máy, có chữ ký của người vay tiền là Chu Thị H.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải, bị đơn bà Chu Thị H trình bày: Bà xác nhận trong năm 2011 có vay tiền của bà V 30.000.000₫ là đúng. Việc vay tiền có lập thành văn bản, mỗi bên giữ một bản nhưng bà đã làm mất. Bà cũng đã thanh toán cho bà V 12.600.000đ tiền lãi nhưng lúc trả tiền không lập văn bản.
Nay bà V khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả số tiền 30.000.000 đồng, không yêu cầu về lãi xuất, bà xác định số tiền vay từ bà V là để kinh doanh riêng (bán hàng tạp hóa) nên bà có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền trên, không liên quan đến các thành viên khác trong gia đình. Ông H làm công việc tự do. Vợ chồng bà không quản lý kinh tế chung, mỗi bên chỉ đóng góp tiền để chi phí sinh hoạt chung. Do đó, ông H không biết, không liên quan đến việc vay nợ của bà.
Bà H không có tài liệu, chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Bùi Văn H1 đã được Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng ông H1 không cung cấp ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà H1, không giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Ông H1 cũng không chấp hành giấy triệu tập đến Tòa án để cung cấp lời khai. Tòa án cũng đã đến nơi ở của ông H1 để thu thập ý kiến nhưng ông H1 không có nhà, vì vậy Tòa án không thu thập được lời khai của ông H1.
Tại phiên tòa:
Bà Trần Thị L, bà Chu Thị H giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng; các đương sự bà Trần Thị V do bà Trần Thị L đại diện, bà Chu Thị H thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định, ông Bùi Văn H1 không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 138; Điều 147; Điều 227; Điều 229; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280; khoản 1 Điều 281; Điều 290; Điều 298; Điều 471; khoản 1 Điều 474; Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 288, Điều 291, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V, buộc bà Chu Thị H và ông Bùi Văn H1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị V số tiền nợ gốc là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
Về án phí: Bà Chu Thị H, ông Bùi Văn H1 phải liên đới chịu 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho bà Trần Thị V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trần Thị V khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn là bà Chu Thị H, ông Bùi Văn H1, địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại các khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Trần Thị V vắng mặt nhưng người đại diện của bà V có mặt tại phiên tòa; Bị đơn ông Bùi Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của nguyên đơn thấy:
Bà Trần Thị V khởi kiện yêu cầu bà Chu Thị H và ông Bùi Văn H1 phải trả nợ gốc là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), không yêu cầu về lãi xuất. Tài liệu chứng cứ bà giao nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình là 01 giấy vay tiền ghi ngày 05/4/2011, có chữ ký và chữ viết của bà Chu Thị H.
Bà Chu Thị H thừa nhận có vay của bà V số tiền 30.000.000₫ nhưng xác định đây là khoản vay riêng để kinh doanh riêng (bán hàng tạp hóa) nên bà có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền trên, không liên quan đến các thành viên khác trong gia đình cũng như ông H.
Ông Bùi Văn H1 không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà H1 thừa nhận có vay tiền của bà V và còn nợ của bà V 30.000.000đ. Mặc dù bà H1 cho rằng đây là khoản vay riêng của bà phục vụ cho việc làm kinh tế riêng nhưng bà H1 không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh vợ chồng bà có xác lập và duy trì chế độ tài sản riêng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, ông Bùi Văn H1 không cung cấp ý kiến cũng như tài liệu, chứng cứ để phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy cần xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng ông Bùi Văn H1 và bà Chu Thị H nên cần buộc ông H, bà H phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị V số tiền 30.000.000₫ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 474; Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 288, Điều 291, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình. Do ông H, bà H là vợ chồng, tài sản chung hợp nhất nên không phân chia nghĩa vụ trả nợ theo phần.
[3] Về lãi suất, bà Trần Thị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà V được chấp nhận nên bà Chu Thị H, ông Chu Văn H2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại các điều 6, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Án phí bà H2, ông H2 cùng phải chịu là 30.000.000₫ x 5% = 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hoàn trả bà Trần Thị V 750.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lại số 0008556, ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 138; Điều 147; Điều 227; Điều 229; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280; khoản 1 Điều 281; Điều 290; Điều 298; Điều 471; khoản 1 Điều 474; Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 288, Điều 291, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V:
Buộc bà Chu Thị H và ông Bùi Văn H1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị V số tiền nợ gốc là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).
- Về án phí: Bà Chu Thị H, ông Bùi Văn H1 phải liên đới chịu 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả bà Trần Thị V 750.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lại số 0008556, ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hằng |
Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 09/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà V cho bà H vay 30.000.000đ. Bà V yêu cầu bà H trả nợ, bà H không trả nên bà V khởi kiện. tòa án chấp nhận yêu cầu của bà V
