Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 09/2024/DS-ST

Ngày 11-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Đôi

Bà Khúc Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TLST-DS, ngày 07 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QÐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ: T, A, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh B– Giám đốc Phòng GNgân hàng TMCP Đchi nhánh L1địa chỉ: Số A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 03 tháng 11 năm 2021); có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị B1, sinh năm 1987 và anh Phạm Đức T năm 1979; cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần N chỉ: Thôn V(tại nhà ông Nguyễn Văn Vxã A, huyện A, thành phố Hải Phòng

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn L; địa chỉ: Xóm C, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bìnhlà người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Giám đốc Công ty Cổ phần N1); có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ do người đại diện hợp pháp trình bày: Ngân hàng TMCP Đ (viết tắt là Ngân hàng B6) cấp tín dụng cho anh Phạm Đức T1 và chị Vũ Thị B1 theo các Hợp đồng tín dụng sau:

- Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023; số tiền vay và giải ngân là 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng); mục đích vay: Hvốn mua đất ở; thời hạn vay: 300 tháng, kể từ ngày 28/4/2023 đến 28/4/2048; lãi suất cho vay: Lãi suất ưu đãi 10,2%/năm áp dụng trong 18 tháng đầu kể từ giải ngân đầu tiên, lãi suất sau thời gian ưu đãi sẽ áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận thả nổi theo quy định của B3tại thời điểm điều chỉnh. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lịch trả nợ gốc, lãi vay: ngày 20 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 20 của tháng liền sau ngày giải ngân đầu tiên. Mỗi kỳ hạn trả nợ gốc, anh T2 B1 phải trả như sau: Từ kỳ 01 đến hết kỳ 300: trả gốc 10.000.000 đồng. Anh T2 B1đã nhận đủ số tiền 3.000.000.000 đồng vào ngày 28/4/2023.

- Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023; số tiền vay và giải ngân là 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng); mục đích vay: Thanh toán tiền mua đất ở; thời hạn vay: 360 tháng, kể từ ngày 18/9/2023 đến ngày 18/9/2053; lãi suất cho vay: Lãi suất ưu đãi 8,7%/năm áp dụng trong 18 tháng đầu kể từ giải ngân đầu tiên, lãi suất sau thời gian ưu đãi sẽ áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận thả nổi theo quy định của B3tại thời điểm điều chỉnh. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lịch trả nợ gốc, lãi vay: ngày 20 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 20 của tháng liền sau ngày giải ngân đầu tiên. Mỗi kỳ hạn trả nợ gốc, anh T2 B1phải trả như sau: Từ kỳ 01 đến hết kỳ 359: trả gốc 5.500.000 đồng, kỳ thứ 360 trả gốc 25.500.000 đồng. Anh T2 B1đã nhận đủ số tiền 2.000.000.000 đồng vào ngày 18/9/2023.

Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay là:

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 109990, số vào sổ cấp GCN: 05799 do UBND huyện A1, thành phố Hải Phòng cấp ngày 03/9/2003 cho ông

Trần Văn T3. Ngày 31/3/2023 đã được đăng ký biến động là chuyển nhượng cho anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1; theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2023/20026435/HĐBĐ ngày 26/4/2023 đã ký giữa anh Phạm Đức T1, chị Vũ Thị B1Ngân hàng B6. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng C, thành phố Hải Phòng, số công chứng 5714/HĐTC/2023, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2023. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1chi nhánh huyện A ngày 26/4/2023 đúng theo quy định pháp luật.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 164-2023, diện tích đất 132m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 367660, số vào sổ cấp GCN: CN00565 do Chi nhánh văn phòng Đ1, thành phố H ngày 25/8/2023 cho anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1; theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2023/20026435/HĐBĐ ngày 13/9/2023 đã ký giữa anh Phạm Đức T1, chị Vũ Thị B1Ngân hàng B6. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng Cthành phố Hải Phòng, số công chứng 13896/HĐTC/2023, quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/9/2023. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1chi nhánh huyện Angày 13/9/2023 đúng theo quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, tính đến thời điểm ngày 11/9/2024 anh T4 chị B1 đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B2 như sau: Đối với Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023, nợ gốc đã trả 120.000.000 đồng, nợ lãi đã trả: 296.278.669 đồng. Đối với Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023, nợ gốc đã trả 40.925.619 đồng, nợ lãi đã trả: 102.631.253 đồng. Tuy nhiên, đến kỳ trả nợ tháng 5/2024 anh T4 chị B1đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng B6 đã nhiều lần làm việc với khách hàng để đôn đốc nghĩa vụ trả nợ. Ngày 25/5/2024, ngày 30/6/2024, ngày 30/7/2024 Ngân hàng B6 đã ban hành các Thông báo nợ gửi đến anh T2 B1 về việc yêu cầu anh chị phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi. Đến nay, anh T2 B1vẫn không thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, không thực hiện tất toán khoản vay theo thông báo.

Nay Ngân hàng B2 đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

1. Buộc anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B2 liên đới trả cho Ngân hàng B2số tiền tính đến ngày xét xử (ngày 11/9/2024) là: 5.021.754.549đ (năm tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó:

- Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023 số tiền nợ là 2.995.646.165 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.880.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 16.901.260 đồng, nợ lãi quá hạn 96.595.397 đồng, nợ lãi chậm trả 2.149.508 đồng.

- Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023 số tiền nợ là 2.026.108.384 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.959.074.381 đồng, nợ lãi trong hạn 9.806.105 đồng, nợ lãi quá hạn 56.055.265 đồng, nợ lãi chậm trả 1.172.633 đồng.

Kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B3 phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng B6 và anh Phạm Đức T1 chị Vũ Thị B4 nêu trên.

2. Trong trường hợp anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B2có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo các Hợp đồng thế chấp.

Đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng có tài sản trên đất là một phần nhà kho xây dựng ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lấn sang đất ngõ xóm, có diện tích 8,5m²; nếu trong trường hợp phải phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ thì Ngân hàng nhận sẽ có trách nhiệm tự tháo dỡ phần tài sản xây dựng ngoài giấy chứng nhận này.

Bị đơn là anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh chị không đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp và hòa giải, từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng. Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, anh T2 B1 vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B6.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần N1 trình bày: Do chủ sử dụng đất chưa có nhu cầu sử dụng nên Công ty mượn nhà đất để sử dụng, việc mượn nhà đất không có văn bản, giấy tờ, chỉ thoả thuận miệng. Thời điểm các bên lập hợp đồng thế chấp, Công ty đã được Ngân hàng B6 thông báo cho biết; kể từ đó đến nay Công ty không xây mới sửa chữa hay có công sức cải tạo gì thêm đối với tài sản thế chấp trên. Nay ngân hàng khởi kiện quan điểm Công ty trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm sẽ đồng ý chấp hành theo bản án để trả lại tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Công ty không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố

Tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh Tchị B5 là bị đơn vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai; đại diện Công ty Cổ phần N1 vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 274, 275, 280, 282, 288, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Các điều 99, 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B6. Buộc anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B2 liên đới trả cho Ngân hàng B2số tiền tính đến ngày xét xử (ngày 11/9/2024) là: 5.021.754.549đ (năm tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó:

- Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023 số tiền nợ là 2.995.646.165 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.880.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 16.901.260 đồng, nợ lãi quá hạn 96.595.397 đồng, nợ lãi chậm trả 2.149.508 đồng.

- Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023 số tiền nợ là 2.026.108.384 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.959.074.381 đồng, nợ lãi trong hạn 9.806.105 đồng, nợ lãi quá hạn 56.055.265 đồng, nợ lãi chậm trả 1.172.633 đồng

Kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B3 phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng B6 và anh Phạm Đức T1 chị Vũ Thị B4 nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trong trường hợp anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B2có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo các Hợp đồng thế chấp.

Đối với tài sản trên thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng có một phần nhà kho xây dựng ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lấn sang đất ngõ xóm; nếu trong trường hợp phải phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ thì Ngân hàng B2 có trách nhiệm tự tháo dỡ phần tài sản xây dựng ngoài giấy chứng nhận này, cần chấp nhận.

· Về án phí: Anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và công bố tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Giữa Ngân hàng B6 và anh T2 B1 có ký hợp đồng tín dụng vay tiền, mục đích vay là hoàn vốn mua đất ở và thanh toán tiền mua đất ở. Nay Ngân hàng B2yêu cầu anh T2 B1thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Trong các Hợp đồng tín dụng đều có thỏa thuận chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, kể từ khi các bên xảy ra tranh chấp thì nguyên đơn không thỏa thuận được với bị đơn về việc yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết. Do vậy, nguyên đơn đã lựa chọn khởi kiện đến Tòa án nơi bị đơn cư trú để thuận tiện cho việc bị đơn đến Tòa án giải quyết tranh chấp. Anh T2 B1có nơi cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện K; căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, anh T2 B1là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Công ty Cổ phần N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ:

[3.1] Ngân hàng B6 và anh T2 B1cùng thỏa thuận ký các Hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023; số tiền vay và giải ngân là 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng); thời hạn vay: 300 tháng, kể từ ngày 28/4/2023 đến 28/4/2048; lãi suất cho vay: Lãi suất ưu đãi 10,2%/năm áp dụng trong 18 tháng đầu kể từ giải ngân đầu tiên, lãi suất sau thời gian ưu đãi sẽ áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận thả nổi theo quy định của B3tại thời điểm điều chỉnh. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023; số tiền vay và giải ngân là 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng); thời hạn vay: 360 tháng, kể từ ngày 18/9/2023 đến ngày 18/9/2053; lãi suất cho vay: Lãi suất ưu đãi 8,7%/năm áp dụng trong 18 tháng đầu kể từ giải ngân đầu tiên, lãi suất sau thời gian ưu đãi sẽ áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận thả nổi theo quy định của B3tại

thời điểm điều chỉnh. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

[3.2] Xét thấy khi ký kết các hợp đồng trên, các bên đều tự nguyện, không bị ép buộc; mục đích và nội dung của các hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập và buộc các bên phải thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng B6 đã thực hiện nghĩa vụ giao tiền cho anh T2 B1 vay đầy đủ theo đúng cam kết tại các Hợp đồng tín dụng. Mặc dù đã nhận tiền vay nhưng anh T2 B1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền khi đến kỳ hạn, do vậy khoản vay của anh chị bị quá hạn trả nợ kể từ ngày 20/5/2024 đến nay. Tại khoản 4 Điều 8 của bản Điều khoản và điều kiện vay (đính kèm Hợp đồng tín dụng) thể hiện: “Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn tất cả các khoản cấp tín dụng chưa thanh toán, chuyển toàn bộ khoản vay của khách hàng sang nợ quá hạn, xử lý tài sản bảo đảm/biện pháp bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của Khách hang/Bên bảo đảm khi xảy ra một trong các Sự kiện vi phạm theo quy định tại Điều 9 bản Điều khoản và điều kiện vay này”. Theo đó, tại điểm a khoản 1 Điều 9 của bản Điều khoản và điều kiện vay quy định về Sự kiện vi phạm như sau: “Khách hàng vi phạm bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, phí, bất kỳ khoản cấp tín dụng nào và các nghĩa vụ khác phát sinh từ Hợp đồng tín dụng cũng như các văn bản, thỏa thuận ký kết với Ngân hàng, vi phạm Quy chế cho vay, Quy chế bảo lãnh của Ngân hàng N1các quy định của pháp luật”. Như vậy, do quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng B6 khởi kiện là có căn cứ, phù hợp với các điều 99, 103 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 116, 117, 463 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền nợ gốc và nợ lãi: Ngân hàng B2 cung cấp bản tự khai, Lịch sử trả nợ gốc và lãi, Bảng tính lãi trong hạn, Bảng tính lãi quá hạn, Bảng tính lãi chậm trả (gồm chậm trả gốc + chậm trả lãi) của khoản vay tính đến ngày xét xử (ngày 11/9/2024) để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Xét đây là khoản tiền các bên đã có thỏa thuận, lãi suất thỏa thuận phù hợp với Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 274, 275, 280, 282, 288, 357, 466 của Bộ luật Dân sự, nên việc Ngân hàng B6 yêu cầu anh T2 B1 trả nợ là có căn cứ chấp nhận. Như vậy, anh T2 B1 phải trả cho Ngân hàng B2 số tiền tính đến ngày xét xử (ngày 11/9/2024) là: 5.021.754.549đ (năm tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó: Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023 số tiền nợ là 2.995.646.165 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.880.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 16.901.260 đồng, nợ lãi quá hạn 96.595.397 đồng, nợ lãi chậm trả 2.149.508 đồng. Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023 số tiền nợ là

2.026.108.384 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.959.074.381 đồng, nợ lãi trong hạn 9.806.105 đồng, nợ lãi quá hạn 56.055.265 đồng, nợ lãi chậm trả 1.172.633 đồng.

[5] Kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B3 phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng B6 và anh Phạm Đức T1 chị Vũ Thị B4 nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp:

[6.1] Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng vay, Ngân hàng B6 và anh Phạm Đức T1, chị Vũ Thị B1 đã cùng thỏa thuận ký 02 Hợp đồng thế chấp gồm: (1) Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2023/20026435/HĐBĐ ngày 26/4/2023 đối với Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 109990, số vào sổ cấp GCN: 05799 do UBND huyện A1, thành phố Hải Phòng cấp ngày 03/9/2003 cho ông Trần Văn T3. Ngày 31/3/2023 đã được đăng ký biến động là chuyển nhượng cho anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng Cthành phố Hải Phòng, số công chứng 5714/HĐTC/2023, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2023. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đlchi nhánh huyện Angày 26/4/2023 đúng theo quy định pháp luật. (2) Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2023/20026435/HĐBĐ ngày 13/9/2023 đối với Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 164-2023, diện tích đất 132m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 367660, số vào sổ cấp GCN: CN00565 do Chi nhánh văn phòng Đ1, thành phố H ngày 25/8/2023 cho anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng Cthành phố Hải Phòng, số công chứng 13896/HĐTC/2023, quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/9/2023. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đlchi nhánh huyện Angày 13/9/2023 đúng theo quy định pháp luật. Như vậy các hợp đồng thế chấp đều được các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tự nguyện tham gia, ký kết, thể hiện ý chí của các bên; về hình thức và nội dung của các hợp đồng thế chấp đều đảm bảo đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật, đã được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. Diện tích đất thế chấp tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/7/2024

của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy và trích đo hiện trạng giống như khi thế chấp.

[6.2] Đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng có tài sản trên đất là một phần nhà kho xây dựng ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lấn sang đất ngõ xóm, có diện tích 8,5m²; nếu trong trường hợp phải phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ thì Ngân hàng B2nhận có trách nhiệm tự tháo dỡ phần tài sản xây dựng ngoài giấy chứng nhận này, cần chấp nhận.

[6.3] Đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ số 164-2023, diện tích đất 132m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng hiện có Công ty Cổ phần nước tinh khiết Samari đang sử dụng. Đại diện hợp pháp của Công ty T5 do chủ sử dụng đất chưa có nhu cầu sử dụng nên Công ty mượn nhà đất để sử dụng, việc mượn nhà đất không có văn bản, giấy tờ, chỉ thoả thuận miệng. Công ty không xây mới sửa chữa hay có công sức cải tạo gì thêm đối với tài sản thế chấp trên. Nay ngân hàng khởi kiện quan điểm Công ty trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm thì đồng ý chấp hành theo bản án để trả lại tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Do Công ty không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.4] Như vậy, trong trường hợp anh T2 B1không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B6 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại 02 tài sản bảo đảm theo 02 hợp đồng thế chấp đã nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp với các điều 317, 318, 319, 320, 323 của Bộ luật Dân sự. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp nêu trên không đủ để trả nợ, thì anh T2 B1phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng B6 cho đến khi trả hết nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp, nếu giá trị tài sản sau khi thanh toán cho Ngân hàng B6 thừa thì số tiền chênh lệch được trả cho anh T2 B1.

[7] Về án phí: Anh T2 B1phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật là: 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng (tức là 0,1% của 1.021.754.549 đồng) = 113.021.755 đồng. Như vậy, Anh T2 B1phải liên đới chịu 113.021.755 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 116, 117, 274, 275, 280, 282, 288, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 99, 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. Buộc anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B2 liên đới trả cho Ngân hàng B2số tiền tính đến ngày xét xử (ngày 11/9/2024) là: 5.021.754.549đ (năm tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó:

- Hợp đồng tín dụng số 01/2023/20026435/HĐTD ngày 26/4/2023 số tiền nợ là 2.995.646.165 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.880.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 16.901.260 đồng, nợ lãi quá hạn 96.595.397 đồng, nợ lãi chậm trả 2.149.508 đồng.

- Hợp đồng tín dụng số 02/2023/20026435/HĐTD ngày 13/9/2023 số tiền nợ là 2.026.108.384 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.959.074.381 đồng, nợ lãi trong hạn 9.806.105 đồng, nợ lãi quá hạn 56.055.265 đồng, nợ lãi chậm trả 1.172.633 đồng

Kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B3 phải liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng B6 và anh Phạm Đức T1 chị Vũ Thị B4 nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trong trường hợp anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B6 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo các Hợp đồng thế chấp gồm:

Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2023/20026435/HĐBĐ ngày 26/4/2023 đã ký giữa anh Phạm Đức T1, chị Vũ Thị B1 – bên thế chấp và Ngân hàng B6 – bên nhận thế chấp. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 109990, số vào sổ cấp GCN: 05799 do UBND huyện A1, thành phố Hải Phòng cấp ngày 03/9/2003 cho ông Trần Văn T3. Ngày 31/3/2023 đã được

đăng ký biến động là chuyển nhượng cho anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 (có các mốc giới 1, 2, 3, 4, 1).

Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2023/20026435/HĐBĐ ngày 13/9/2023 đã ký giữa anh Phạm Đức T1, chị Vũ Thị B1 – bên thế chấp và Ngân hàng B6– bên nhận thế chấp. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 164-2023, diện tích đất 132m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DM 367660, số vào sổ cấp GCN: CN00565 do Chi nhánh văn phòng Đ1, thành phố H ngày 25/8/2023 cho anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 (có các mốc giới 1, 2, 3, 4, 1).

3. Đối với tài sản trên thửa đất số 24, tờ bản đồ số 8, diện tích đất 150m², địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng có một phần nhà kho xây dựng ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lấn sang đất ngõ xóm; nếu trong trường hợp phải phát mại tài sản để thu hồi khoản nợ thì Ngân hàng B2 có trách nhiệm tự tháo dỡ phần tài sản xây dựng ngoài giấy chứng nhận này (có các mốc giới 2, 2a, 3a, 3, 2).

(có sơ đồ hiện trạng kèm theo).

Trường hợp phát mại tài sản thế chấp nêu trên không đủ để trả nợ, thì anh T4 chị B1 phải tiếp tục liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B2cho đến khi trả hết nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp phát mại tài sản thế chấp, nếu giá trị tài sản sau khi thanh toán cho Ngân hàng B2thừa thì số tiền chênh lệch được trả cho anh T4 chị B1.

4. Về án phí: Anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 phải chịu chung 113.021.755đ (một trăm mười ba triệu, không trăm hai mươi mốt nghìn, bảy trăm năm mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại Ngân hàng B6 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.443.000đ (năm mươi sáu triệu, bốn trăm bốn mươi ba nghìn đồng) theo biên lai số 0007925 ngày 07/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy.

5. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng B6 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Phạm Đức T4 chị Vũ Thị B1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Khúc Thị Minh

Đặng Thị Đôi

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Đ và Vũ Thị B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger