Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày 11-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần tại Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 458/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 574/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Văn V, sinh năm 1997 tại tỉnh Gia Lai. Thường trú: thôn B, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V1 (đã chết) và bà Dương Thị Vi T, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Đức P, sinh năm 2000. Thường trú: xóm I, xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Quang H, sinh năm 1989. Thường trú: xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Dương Thị Vi T, sinh năm 1965. Thường trú: thôn B, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V và anh Lê Đức P là bạn bè, bản thân V không có nghề nghiệp ổn định, tham gia chơi chứng khoán nhưng không có tiền nên V nảy sinh ý định gặp anh P để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07/9/2023, Trần Văn V sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, sim số 0338.039.070 gọi điện thoại đến số 0961.325.xxx của anh Lê Đức P nói “mẹ tao ở quê vào, mày cho tao mượn xe và giấy tờ xe để đi đón mẹ ở sân bay T chiều về tao trả lại” thì anh P đồng ý. Sau đó, anh P nói với V đến trước Công ty M, tại đường Đ, Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương để gặp anh P. Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày, V đến trước cổng Công ty M thì anh P dắt xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen biển số 37M1-349.25 và cầm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 bản gốc đều đứng tên Lê Đức P đưa cho V. Sau khi nhận được xe và giấy tờ V điều khiển xe mô tô biển số 37M1-349.25 đi đến cửa hàng cầm đồ “P” địa chỉ: số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp anh Trần Quang H là chủ cửa hàng. Tại đây, V yêu cầu cầm xe với số tiền 20.000.000 đồng thì anh H hỏi “xe này của ai?”, V trả lời “của bạn nói mang đi cầm giùm” thì anh H đồng ý, viết giấy biên nhận cầm đồ và giao cho V số tiền 20.000.000 đồng, nhận được tiền V đi xe công nghệ Garb về phòng trọ ở khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và sử dụng hết số tiền 20.000.000 đồng. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày anh P gọi điện nhiều lần cho V nhưng né tránh không nghe, P nhắn tin V không trả lời. Đến ngày 20/9/2023, V liên lạc và báo với anh P xe mô tô biển số 37M1-349.25 Vinh đã cầm cố tại cửa hàng cầm đồ “P”, V hẹn có tiền sẽ lấy xe về để trả cho anh P nhưng V không có tiền. Đến ngày 22/9/2023, V liên lạc với bà Dương Thị Vi T là mẹ của V kể lại sự việc và nói bà T chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào số tài khoản của anh P để đi lấy xe rồi V bỏ trốn. Đến ngày 29/9/2023, anh P đến đồn Công an Khu công nghiệp S trình báo sự việc. Ngày 11/10/2023, V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Theo Kết luận giám định số 183/KLÐG-HĐĐTS ngày 20/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự định giá 01 xe nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen biển số 37M1-349.25 trị giá 40.000.000 đồng.

Đối với anh Trần Quang H, làm chủ cửa hàng cầm đồ “Phước Sang”, có hành vi nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy uỷ quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố được quy định tại điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định xử phạt hành chính đối với anh H số tiền là 5.000.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ; xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen biển số 37M1-349.25, quá trình điều tra xác định đây là xe của anh P mua đứng tên, sử dụng. Do đó Cơ quan điều tra ra Quyết định trả xe lại cho anh P theo quy định.
  • + Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy phép lái xe hạng A1 đứng tên Lê Đức P, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh P theo quy định.
  • + Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus, gắn sim số 0338.039.070 thu giữ của Trần Văn V. Đây là phương tiện V dùng liên lạc mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với chiếc điện thoại và tiêu hủy sim số điện thoại nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Đức P, đã nhận lại tài sản là 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen biển số 37M1-349.25; anh Trần Quang H đã nhận lại số tiền 20.000.000 đồng nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 19 tháng 12 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn V với mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đề nghị xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với sim số 0338.039.070 không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Bị hại anh Lê Đức P vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự: Anh P đã nhận lại 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen biển số 37M1-349.25 do anh P đứng tên chủ sở hữu và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Anh P đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang H vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự thì anh H đã nhận lại số tiền 20.000.000 đồng do mẹ của bị cáo Trần Văn V bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Trần Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 11 giờ 10 phút ngày 07/9/2023, tại trước Công ty M, địa chỉ: đường Đ, Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trần Văn V có hành vi gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen, biển số 37M1-349.25 của anh Lê Đức P có giá trị 40.000.000 đồng. Sau đó, cố tình không trả lại mà mang đi cầm cố tại cửa hàng cầm đồ “P” địa chỉ: số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do anh Trần Quang H làm chủ để lấy 20.000.000 đồng tiêu xài cá nhân và chơi chứng khoán. Hành vi của bị cáo Trần Văn V dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại P có giá trị 40.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Hành vi của bị cáo Trần Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý hoang mang cho người dân tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  4. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  5. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và khắc phục toàn bộ hậu quả; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  6. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại V đã nhận lại 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter 155C, màu đen biển số 37M1-349.25 do anh P đứng tên chủ sở hữu và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H đã nhận lại số tiền 20.000.000 đồng do mẹ của bị cáo Trần Văn V bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo V.
  8. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với sim số 0338.039.070 không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
  9. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  10. Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus.
    • - Tịch thu tiêu hủy: sim số 0338.039.070.

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/12/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

  4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger