Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:09/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/01/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Ông Hoàng Sĩ Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 391/2023/HNGĐ-TLST ngày 05/10/2023, về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 468/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Bùi Quang V, sinh ngày 10/4/1990.

Địa chỉ: Số nhà A, phố Q, khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Lao động tại : Nhật Bản.

Hiện có mặt tại Việt Nam.

Người được anh V ủy quyền giao nhận các văn bản tố tụng: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn : Chị Đinh Thị T, sinh ngày 10/5/1993.

HKTT: Số nhà A, phố Q, khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Địa chỉ hiện nay: Tổ I, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Số nhà A, phố Q, khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Bùi Quang V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đinh Thị T tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường B, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 22/8/2016. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc tại gia đình anh V. Năm 2019 anh V đi Nhật Bản lao động, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc, tuy nhiên đến năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị T không chung thủy, mặc dù đã được gia đình khuyên bảo và được anh tha thứ nhưng chị T không thay đổi. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh và chị có một con chung là Bùi Ngọc P, sinh ngày 12/5/2017. Trong thời gian anh đi nước ngoài cháu ở với bà nội là Nguyễn Thị N. Hiện tại anh đã về nước, ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn – chị Đinh Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi đăng ký kết hôn, chị và anh Bùi Quang V đều có thời gian lao động tại Đài Loan, hai bên tự do tìm hiểu, đến tháng 6/2016 anh chị về Việt Nam và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 22/8/2016. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được 1 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V đi Nhật Bản lao động, chị ở nhà sinh con, sống chung cùng mẹ chồng.Vợ chồng xa nhau dẫn đến hai bên mất niềm tin, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh V có đơn xin ly hôn chị đồng ý.

Về con chung : Chị và anh V có một con chung là Bùi Ngọc P, sinh ngày 12/5/2017. Hiện nay cháu đang ở với bà nội. Do vợ chồng mâu thuẫn, chị không sống chung cùng với mẹ chồng nên đầu năm 2023 chị đã lên Hòa Bình bán hàng. Chị muốn đưa con đi cùng nhưng mẹ chồng không đồng ý và cũng không cho chị thăm gặp con. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, vì anh V hiện nay đang ở nước ngoài, không có mặt tại Việt Nam, bà nội cháu đã già không đủ điều kiện để dạy cháu P học tập. Hiện nay chị có cửa hàng quần áo riêng tại Hòa Bình, thu nhập khoảng 15.000.000đồng/tháng. Chị tự nguyện không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh V không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị đồng ý để anh Bùi Quang V tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Người làm chứng bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Bùi Quang V. Trong thời gian anh V đi nước ngoài, chị T lên Hà Nội học tiếng, bà đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P từ năm 2019. Đến khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị T bỏ nhà đi từ ngày 26/4/2023 đến nay. Từ đó bà tiếp tục là người nuôi dưỡng cháu P. Trong thời gian bà chăm sóc cháu P, chị T bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc, thăm gặp con. Nay ly hôn chị T đòi quyền nuôi con là không đủ tư cách, vì chị T có quan hệ với nhiều người đàn ông, không có chỗ ở ổn định, thường xuyên thay đổi công việc nên không đảm bảo quyền nuôi con.

Tại biên bản xác minh thể hiện cháu P đang ở với bà nội là Nguyễn Thị N, cháu được bà chăm sóc và học tập tốt. Chị T hiện không còn sinh sống tại địa phương.

Tại phiên tòa anh V có mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn chị T, xin được nuôi con.

Chị T vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bà N có quan điểm: Đề nghị Tòa án giao cho anh V tiếp tục nuôi cháu P, bà sẽ có trách nhiệm hỗ trợ anh V trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của anh Bùi Quang V và chị Đinh Thị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh V được ly hôn chị T.

Về con chung, tiếp tục giao cháu Bùi Ngọc P, sinh ngày 12/5/2017 cho anh Bùi Quang V chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh V không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn anh Bùi Quang V có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại số nhà A, phố Q, khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Bị đơn chị Đinh Thị T có địa chỉ: Tổ I, phường Q, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Trước khi thụ lý vụ án, anh V sinh sống tại Nhật Bản, chị T lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết ly hôn. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên hiện tại anh V đã về Việt Nam và không ủy quyền cho bà N về việc nuôi con, nên Hội đồng xét xử xác định bà N là người làm chứng trong vụ án.

Tại phiên tòa chị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt chị T.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Quang V và chị Đinh Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường B, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 22/8/2016, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống mỗi người một nơi, hai bên thiếu sự chia sẻ, tin tưởng dẫn đến không tìm được tiếng nói chung. Nay anh V và chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh V có đơn xin ly hôn, chị T cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Bùi Quang V.

- Về con chung: Anh Bùi Quang V và chị Đinh Thị T xác định vợ chồng có một con chung là Bùi Ngọc P, sinh ngày 12/5/2017, hiện nay cháu P đang ở với bà nội và anh V. Ly hôn anh V, chị T đều có nguyện vọng nuôi con.

Xét điều kiện nuôi con của anh V, chị T, Hội đồng xét xử thấy: Theo chị T trình bày hiện nay chị đang thuê cửa hàng bán quần áo tại thành phố H, chị có thu nhập và chỗ ở ổn định, nếu được nuôi con chị sẽ chuyển trường cho con nên Hòa B sinh sống. Anh V có quan điểm hiện anh đã về Việt Nam làm việc, gia đình có chỗ ở ổn định, có mẹ đẻ giúp đỡ trong việc chăm sóc con nên anh đề nghị được tiếp tục nuôi cháu P. Như vậy về điều kiện nuôi dưỡng con chung của anh V, chị T đều đảm bảo. Tuy nhiên xét thấy thực tế cháu Phan ở với bà nội từ nhỏ, được bà chăm sóc và phát triển tốt. Hiện tại anh V đã về Việt Nam và đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Do vậy để ổn định cuộc sống cho cháu P, cần tiếp tục giao cháu P cho anh V nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Chấp nhận sự tự nguyện của anh V không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Về án phí: Anh Bùi Quang V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Bùi Quang V được ly hôn chị Đinh Thị T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con Bùi Ngọc P, sinh ngày 12/5/2017 cho anh Bùi Quang V chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh V không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con.
  3. Chị Đinh Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Anh Bùi Quang V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0000471 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh V đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Quang V, chị Đinh Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Bến Tắm;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger