|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-02-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Đông
- Ông Ngô Văn Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 240/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Tố Q, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lâm Văn C, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn chị Đào Thị Tố Q trình bày:
Vào năm 2013, chị Q và anh C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày vào ngày 20-08-2013, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn, chị Q và anh C sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Trong thời gian hôn nhân, chị Q và anh C có một con chung tên Lâm Thị Nhã H, sinh ngày: 06-06-2014. Hiện tại, con chung đang sống với anh C, về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận.
Chị Đào Thị Tố Q yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Tố Q được ly hôn với anh Lâm Văn C.
- Về con chung: Giao cho anh Lâm Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị Q không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 06-01-2025, bị đơn anh Lâm Văn C trình bày:
Đối với nội dung trình bày trong đơn khởi kiện của chị Q, thì anh C thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung nên anh C không có yêu cầu phản tố. Về yêu cầu khởi kiện của chị Q thì anh C không đồng ý ly hôn với chị Q; về con chung, nếu giải quyết cho ly hôn thì anh C thống nhất tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung anh C thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh C trình bày giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với chị Q vì anh C muốn hàn gắn tình cảm với chị Q để con chung được sống cùng cha, mẹ. Nếu phải ly hôn thì anh C vẫn đồng ý tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung thì không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử chị Đào Thị Tố Q được ly hôn với anh Lâm Văn C; về con chung giao cháu Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014 cho anh Lâm Văn C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; chị Đào Thị Tố Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét; về án phí nguyên đơn chị Đào Thị Tố Q phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Q khởi kiện anh C để yêu cầu ly hôn và giao con chung cho anh C nuôi dưỡng, nhưng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Q có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Q.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã đúng theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, chị Q có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C theo quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q trình bày sau khi kết hôn, chị Q và anh C sống chung hạnh phúc một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên từ tháng 7-2024, chị Q và anh C không còn sống chung. Ngày 06-01-2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải, động viên hàn gắn tình cảm, để chị Q và anh C đoàn tụ với nhau, mặc dù anh C không đồng ý ly hôn nhưng chị Q không đồng ý hàn gắn tình cảm và giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân cần phải được xây dựng trên sự tự nguyện của cả hai, nhưng giữa chị Q và anh C đã có một trong hai bên không đồng ý nên có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị Q và anh C đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị Q là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung, chị Q và anh C có một người con chung tên Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014, hiện tại đang sống cùng anh C. Khi ly hôn, chị Q yêu cầu giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Theo khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q và anh C thống nhất giao con chung cho anh C chăm sóc, nuôi dưỡng và tại phiên tòa cũng không ai thay đổi ý kiến. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q giao cháu Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; chị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Xét thấy, kể từ khi chị Q và anh C không còn sống chung, cháu H sống cùng với anh C đảm bảo các quyền lợi về mọi mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q yêu cầu giao con chung cho anh C nuôi dưỡng nhưng không cấp dưỡng nuôi con và anh C cũng đồng ý và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con chung. Từ đó, có căn cứ cho rằng anh C có đầy đủ các điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo các quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định chị Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q và anh C đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí sơ thẩm, chị Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Tố Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Tố Q được ly hôn với anh Lâm Văn C.
- Về con chung: Giao cho anh Lâm Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị Đào Thị Tố Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Đào Thị Tố Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008049 ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Chị Đào Thị Tố Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Chị Đào Thị Tố Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Luân |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Tố Q. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Tố Q được ly hôn với anh Lâm Văn C. 2. Về con chung: Giao cho anh Lâm Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lâm Thị Nhã H, sinh ngày 06-06-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị Đào Thị Tố Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Đào Thị Tố Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
