Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-01 - 2024

Về “Tranh chấp Hôn nhân

và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh; ông Võ Duy Bảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 284/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị C, sinh ngày 24/7/1993. Địa chỉ cư trú: khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Trần Thọ B, sinh ngày 02/10/1989. Địa chỉ cư trú trước khi đi nước ngoài: khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Nước ngoài. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn chị Hoàng Thị C như sau:

Chị Hoàng Thị C và anh Trần Thọ B tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An ngày 23 tháng 12 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống cùng bố mẹ chồng tại khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Tháng 7/2019, anh B đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Từ đó đến nay chưa về Việt Nam lần nào. Do ở cách xa nhau về khoảng cách địa lý nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Đã một thời gian dài vợ chồng không liên lạc với nhau, nên chị C cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh B. Nếu kéo dài thời gian cuộc hôn nhân thì cũng chỉ là hình thức, còn tình cảm vợ chồng thực sự đã hết. Chị C đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Trần Thọ B.

Về con chung: chị C, anh B có 02 người con chung là Trần Phương C1, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2015 và Trần Tùng L, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016. Từ trước đến nay các con chung do chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị C đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là anh Trần Thọ B vắng mặt, do đó không có ý kiến.

Chị Hoàng Thị C không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh B cư trú, chị chỉ biết hiện nay anh B đang sinh sống tại Hàn Quốc. Theo Công văn số 24970/QLXNC-P3 ngày 22/9/2023 của Cục Q - Bộ C3 thì anh Trần Thọ B xuất cảnh qua cửa khẩu N ngày 17/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị C2 (là mẹ đẻ anh B), trú tại khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà C2 thông báo với anh B để gửi lời khai về cho Tòa án. Bà C2 cho biết thời gian ở nước ngoài, anh B thường xuyên liên lạc về với bà, bà đã nói cho anh B biết việc chị C làm đơn ly hôn anh B, có hỏi địa chỉ của anh B nhưng anh B cho biết công việc không ổn định, nay đây mai đó, do đó bà không cung cấp được địa chỉ của anh B cho Tòa án. Anh B đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị C và anh B, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh B liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.

Cháu Trần Phương C1 và Trần Tùng L có Đơn trình bày nguyện vọng với nội dung: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu C1 muốn ở với mẹ, cháu L mong muốn được ở với bố.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hoàng Thị C được ly hôn anh Trần Thọ B. Về con chung: Đề nghị giao con chung Trần Phương C1, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2015 và Trần Tùng L, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016 cho chị Hoàng Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C chưa yêu cầu, nên không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Hoàng Thị C, anh Trần Thọ B có địa chỉ cư trú tại khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Bị đơn, anh Trần Thọ B hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài (Hàn Quốc), nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho nguyên đơn chị Hoàng Thị C đúng qui định pháp luật, chị C đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Việc tống đạt thông báo, các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Trần Thọ B Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh B vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị C và anh Trần Thọ B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/12/2014 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Năm 2019, anh B đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, từ đó đến nay chưa về. Do vợ chồng sống xa nhau nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thiếu sự quan tâm lẫn nhau, nay chị C thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên làm đơn ly hôn. Theo lời khai của bà C2 thì anh B đã được bà thông tin cho biết chị C làm đơn xin ly hôn với anh, nhưng anh B không gửi ý kiến về cho Tòa án. Xét tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Hoàng Thị C ly hôn anh Trần Thọ B.

2.2. Về con chung: Chị Hoàng Thị C và anh Trần Thọ B có 02 con chung là Trần Phương C1, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2015 và Trần Tùng L, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016, hai con chung đang ở cùng chị C, được chị C chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu C1 có nguyện vọng là được ở với chị C, cháu L có nguyện vọng được ở với anh B. Xét thấy: việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm của chị C, anh B. Hiện tại anh Trần Thọ B đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ, không có điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng không có ý kiến đề nghị đối với Tòa án, chị C có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp cần được chấp nhận. Do đó, chấp nhận giao 02 con chung cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, anh B có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.

Về cấp dưỡng: Chị C chưa yêu cầu và anh B cũng chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không được ai cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị C chưa yêu cầu và anh B cũng chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thị C phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 2 Điều 207; Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị C.

  1. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị C được ly hôn anh Trần Thọ B.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung là Trần Phương C1, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2015 và Trần Tùng L, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2016 cho chị Hoàng Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    2. Về cấp dưỡng: Chị Hoàng Thị C chưa yêu cầu, anh Trần Thọ B cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

    Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0004467 ngày 13/10/2023.
  5. Về quyền kháng cáo:
    1. Chị Hoàng Thị C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
    2. Anh Trần Thọ B đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Nghi Hương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger