|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/DS-ST
Ngày 09-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 539/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 619/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 06/TB-TA ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (A); địa chỉ: Số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T, chức vụ: Giám đốc xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 69/UQ-QLN.22 ngày 20/01/2022 và Văn bản ủy quyền số 2118/UQ-QLN.23 ngày 13/11/2023);
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích L, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ, địa chỉ liên lạc: Tầng F số A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền số 2087/UQ-CNTL.24 ngày 10/6/2024); có mặt.
2. Bị đơn: Bà Phạm Tuyết L1, sinh năm 1988; địa chỉ: Số C H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Quang H, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn (Ngân hàng Thương mại cổ phần Á) trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (A) cấp tín dụng cho bà Phạm Tuyết L1 theo hai khoản sau:
1. Theo Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN.966.211220 ký ngày 21/12/2020 giữa A và bà Phạm Tuyết L1, chi tiết như sau:
- - Số tiền cho vay: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng);
- - Mục đích vay: Tiêu dùng tín chấp không có tài sản bảo đảm; Cấp mới khoản vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình.
- - Phương thức cho vay: Cho vay từng lần;
- - Phương thức giải ngân: Chuyển toàn bộ số tiền cho vay vào tài khoản tiền gửi số 16581397 của bà Phạm Tuyết L1 tại A;
- - Thời hạn cho vay: 48 tháng, kể từ ngày kế tiếp bên được cấp tín dụng nhận tiền vay;
- - Lãi suất trong hạn: Tính theo dư nợ ban đầu: 12%/năm (LS1)
- Tính theo dư nợ thực tế: 23,51%/năm (LS2)
- - Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn;
- - Lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
2. ACB cấp thẻ tín dụng căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của bà Phạm Tuyết L1 ký ngày 09/12/2020, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A và các văn bản khác của bà Phạm Tuyết L1 ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng; chi tiết như sau:
- - Số thẻ tín dụng: 3567950000387873
- - Ngày cấp thẻ: 21/12/2020;
- - Loại thẻ: JCB Vàng (thẻ tín dụng quốc tế);
- - Hạn mức thẻ: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng);
- - Hiệu lực thẻ: Tháng 12/2023;
- - Lãi suất, phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, bà Phạm Tuyết L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt khoản cho vay, thu hồi nợ trước hạn:
Ngày 21/9/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với toàn bộ khoản thẻ chưa thanh toán của thẻ tín dụng số 3567950000387873.
Ngày 01/6/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á đã chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay chưa thanh toán của Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN.966.211220.
Từ ngày 21/12/2020 đến ngày 17/5/2022, bà Phạm Tuyết L1 đã thanh toán được số tiền 40.041.804 đồng, gồm:
- - Khoản vay theo hợp đồng tín dụng: Nợ gốc: 24.863.000 đồng; số tiền lãi trong hạn: 11.002.685 đồng; số tiền phạt: 1.370 đồng.
- - Khoản thẻ tín dụng: Nợ gốc: 4.174.749 đồng.
Đến nay bà Phạm Tuyết L1 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tổng số tiền: 147.881.378 đồng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á yêu cầu bà Phạm Tuyết L1 trả ngay cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là 147.881.378 đồng; trong đó:
Đối với Hợp đồng tín dụng, bà L1 còn nợ:
- - Nợ gốc là: 75.137.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 5.331.507 đồng;
- - Lãi quá hạn: 53.135.240 đồng;
- - Phạt chậm trả lãi: 1.456.712 đồng;
- - Phí phạt quá hạn: 245.087 đồng.
Đối với thẻ tín dụng số 3567950000387873, bà L1 còn nợ:
- - Nợ gốc là: 5.825.215 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 6.750.581 đồng.
Bà L1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn, phí phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng giữa hai bên đã ký kết kể từ ngày 10/8/2024 cho đến ngày trả hết khoản nợ; trường hợp bà L1 không thanh toán, thanh toán không đúng, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khoản nợ trên, bao gồm: Nợ gốc, nợ lãi trong và quá hạn, phí phạt chậm trả thì yêu cầu ông Bùi Quang H thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Phạm Tuyết L1 theo giấy cam kết về việc trả nợ ông H đã ký với ngân hàng.
Về án phí: Đề nghị Tòa án buộc bị đơn chịu án phí dân sự theo quy định.
Tại bản tự khai, các biên bản trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn (bà Phạm Tuyết L1) trình bày:
Tôi và Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có ký kết Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN.966.211220 ngày 21/12/2020, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 09/12/2020, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á và các văn bản khác với số tiền vay, các thỏa thuận khác theo như đại diện Ngân hàng trình bày ở trên là đúng. Tôi đã nhận đủ tổng số tiền là 110.000.000 đồng theo thỏa thuận của các văn bản trên từ Ngân hàng.
Quá trình thực hiện hợp đồng cấp tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, tôi đã trả được tổng số tiền 40.041.804 đồng, gồm:
- - Khoản vay theo hợp đồng tín dụng: Nợ gốc: 24.863.000 đồng; số tiền lãi trong hạn: 11.002.685 đồng; số tiền phạt: 1.370 đồng;
- - Khoản thẻ tín dụng: Nợ gốc: 4.174.749 đồng.
Sau đó, do đại dịch Covid kéo dài nên tôi không buôn bán, kinh doanh được dẫn đến không có thu nhập và ổn định để trả nợ cho Ngân hàng nên đã vi phạm thỏa thuận theo hợp đồng.
Tính đến tính đến ngày 09/8/2024 tôi còn nợ ngân hàng số tiền 147.881.378 đồng; trong đó:
Đối với Hợp đồng tín dụng, tôi còn nợ:
- - Nợ gốc là: 75.137.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 5.331.507 đồng;
- - Lãi quá hạn: 53.135.240 đồng;
- - Phạt chậm trả lãi: 1.456.712 đồng;
- - Phí phạt quá hạn: 245.087 đồng.
Đối với thẻ tín dụng số 3567950000387873, tôi còn nợ:
- - Nợ gốc là: 5.825.215 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 6.750.581 đồng.
Đến nay, tôi vẫn chưa có khả năng trả ngay toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng do tôi vừa sinh con, cháu còn rất nhỏ và tôi cũng mới bắt đầu đi làm lại. Đề nghị Ngân hàng cho tôi được trả dần và miễn, giảm các khoản lãi, phí phạt chậm trả và cho tôi trả dần khoản nợ gốc trên. Đối với khoản nợ với N hang, tôi sẽ có nghĩa vụ thanh toán.
Về án phí: Do điều kiện khó khăn về kinh tế như đã trình bày trên, tôi đề nghị ngân hàng hỗ trợ một nửa trong tổng số tiền án phí phải nộp theo quy định.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Bùi Quang H): Tại các buổi làm việc theo giấy báo, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thống báo mở phiên toà của Toà án nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.
Tại Biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 29/3/2024, Công an phường H, quận L, thành phố Hải Phòng cung cấp như sau: “Ông Bùi Quang H, sinh năm 1989 hiện nay đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số A H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Hiện nay ông Bùi Quang H vẫn cư trú, sinh sống tại địa chỉ trên".
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của các đương sự, việc giao các văn bản cho các bên. Về phía nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 119, 280, 335, 336, 342, 351, 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 4, Điều 91, 94, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội Đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao đề nghị Hội đồng xét xử, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Tuyết L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền 147.881.378 đồng tính đến ngày 09/8/2024; trong đó:
Đối với Hợp đồng tín dụng, tôi còn nợ:
- - Nợ gốc là: 75.137.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 5.331.507 đồng;
- - Lãi quá hạn: 53.135.240 đồng;
- - Phạt chậm trả lãi: 1.456.712 đồng;
- - Phí phạt quá hạn: 245.087 đồng.
Đối với thẻ tín dụng số 3567950000387873, tôi còn nợ:
- - Nợ gốc là: 5.825.215 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 6.750.581 đồng.
Trường hợp chị Phạm Tuyết L1 không trả nợ được cho ngân hàng thì ông Bùi Quang H có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ của bà L1 cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á theo cam kết giữa ông H với ngân hàng vào ngày 21/12/2020
Về án phí: Chị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với chị Phạm Tuyết L1. Bị đơn Phạm Tuyết L1 cư trú tại địa bàn quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
[2] Tại phiên tòa ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do (ngay cả trong quá trình Toà án thụ lý, giải quyết ông H đều vắng mặt) các văn bản Tòa án giao cho ông H theo đúng quy định pháp luật; qua đó cho thấy ông H đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Bùi Quang H.
- Về yêu cầu của nguyên đơn:
[3] Xét Hợp đồng cấp tín dụng số SHP.CN.966.211220 ngày 21/12/2020 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 09/12/2020, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng và các văn bản khác được ký kết giữa bên cho vay là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á và bên vay là bà Phạm Tuyết L1 đã có sự thống nhất với nhau bằng văn bản về số tiền cho vay, mục đích cho vay, phương thức cho vay, loại thẻ sử dụng, hạn mức thẻ, hiệu lực thẻ, phương thức giải ngân, phương thức trả nợ, lãi suất vay, quyền và nghĩa vụ giữa các bên phù hợp với quy định tại Điều 116, 117, 119, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91, 94, 98 Luật các Tổ chức tín dụng nên các văn bản được ký kết giữa hai bên nói trên là hợp pháp. Theo nội dung các văn bản đã ký kết, Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình là giải ngân đúng số tiền, đúng thời gian theo Hợp đồng tín dụng cho bà L1, cấp thẻ cho bà L1 sử dụng đúng loại thẻ, đúng hạn mức tín dụng; về phía bà L1 đã nhận đủ số tiền do Ngân hàng giải ngân, nhận thẻ tín dụng để sử dụng trong quá trình thực hiện bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ; cụ thể từ sau ngày 17/5/2022 bà L1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà L1 thanh toán không được và từ ngày 01/6/2022 ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn, việc này phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; như vậy, bà L1 đã vi phạm Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Á yêu cầu bà L1 phải trả Ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là 147.881.378 đồng; trong đó:
Đối với Hợp đồng tín dụng:
- - Nợ gốc là: 75.137.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 5.331.507 đồng;
- - Lãi quá hạn: 53.135.240 đồng;
- - Phạt chậm trả lãi: 1.456.712 đồng;
- - Phí phạt quá hạn: 245.087 đồng.
Đối với thẻ tín dụng số 3567950000387873:
- - Nợ gốc là: 5.825.215 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 6.750.581 đồng.
và bà L1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn, phí phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng giữa hai bên đã ký kết tính từ ngày 10/8/2024 cho đến ngày trả hết khoản nợ gốc là có căn cứ phù hợp với khoản 2 Điều 8 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội Đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao, cần được chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu của ngân hàng đối với ông Bùi Quang H là người đã ký Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 21/12/2020 với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, trong đó có nội dung cam kết: Bên cam kết (ông H) đồng ý cùng trả nợ với Bên được cấp tín dụng (bà L1) theo đúng kỳ hạn và các nội dung khác của hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các cam kết khác của Bên được cấp tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á. Ngân hàng có quyền yêu cầu một trong hai bên (Bên cam kết và Bên được cấp tín dụng) hoặc cả hai bên cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ; Bên cam kết đồng ý trả thay cho Bên được cấp tín dụng các khoản nợ của Bên được cấp tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á khi Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Xét đây là cam kết tự nguyện của đương sự, không vi phạm điều cấm của pháp luật phù hợp với quy định tại Điều 335, 342 Bộ luật Dân sự 2015; do vậy nguyên đơn yêu cầu ông Bùi Quang H thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà Phạm Tuyết L1 theo Giấy cam kết về việc trả nợ ông H đã ký là có cơ sở, nên ông H có nghĩa vụ trả nợ thay cho bà L1 trong trường hợp bà L1 không thanh toán, thanh toán không đúng, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: Nợ gốc, nợ lãi trong và quá hạn, phí phạt chậm trả theo Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng giữa bà L1 đã ký kết với ngân hàng; Giấy cam kết về việc trả nợ giữa ông H ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
- Về án phí:
[5] Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.690.939 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005739 ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân. Bà Phạm Tuyết L1 phải chịu 7.394.068,9 đồng (làm tròn 7.394.000 đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 119, 280, 335, 336, 342, 351, 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91, 94; 95; 98 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; khoản 2 Điều 8 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội Đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á;
Buộc chị Phạm Tuyết L1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền 147.881.378 đồng; trong đó:
Đối với Hợp đồng tín dụng: - Nợ gốc là: 75.137.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 5.331.507 đồng;
- - Lãi quá hạn: 53.135.240 đồng;
- - Phạt chậm trả lãi: 1.456.712 đồng;
- - Phí phạt quá hạn: 245.087 đồng.
Đối với thẻ tín dụng số 3567950000387873: - Nợ gốc là: 5.825.215 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 6.750.581 đồng.
Kể từ ngày 10/8/2024 là tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm bà L1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn, phí phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng giữa hai bên đã ký kết cho đến ngày trả hết khoản nợ gốc.
Trường hợp bà L1 không thanh toán, thanh toán không đúng, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ bao gồm: Nợ gốc, nợ lãi trong và quá hạn, phí phạt chậm trả theo Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng giữa bà L1 đã ký kết với ngân hàng thì ông Bùi Quang H có nghĩa vụ trả nợ thay cho bà L1 đối với số tiền chưa thanh toán theo Giấy cam kết về việc trả nợ giữa ông H ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
2. Về án phí: Bà Phạm Tuyết L1 phải chịu 7.394.000 đồng (bảy triệu, ba trăm chín mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung Ngân sách nhà nước. Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.690.939 đồng (hai triệu, sáu trăm chín mươi nghìn, chín trăm ba mươi chín đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005739 ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân.
Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á và bà Phạm Tuyết L1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Bùi Quang H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng giữa Ngân hàng A - Phạm Tuyết L
