Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH LONG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số: 09/2024/DSST

Ngày 09 - 7 - 2024

V/v: “Tranh chấp quyền

Sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Ngọc Châu

2. Ông Nguyễn Thanh Minh

Thư ký phiên tòa: Lê Thiên Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hùng Phong – Kiểm sát viên

Trong các ngày 24 tháng 6 năm 2024 và ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xét xử công khai đối với vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/DSST ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QÐST - DS, ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bình A, sinh năm 1971 (Có mặt)
  • Bà Ninh Thị Hồng T, sinh năm 1977 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
  • Cùng địa chỉ: Tổ B, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
  • - Bị đơn: 1. Bà Đào Thị T1, sinh năm 1964 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
  • 2. Bà Lê Thị M, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị M là bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 2000; Địa chỉ: Số C T, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
  • 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
    • 3.1 Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
    • 3.2 Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
    • 3.3 Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
    • Cùng địa chỉ: Tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
    • 3.4 Ông Hoàng Văn K, sinh năm 1961 (Vắng mặt)
    • 3.5 Bà Nguyễn Thị T3 (Chuyền), sinh năm 1962 (Vắng mặt)
    • Cùng địa chỉ: Tổ C, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
    • 3.6. Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước
    • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Mạnh H1 – Phó trưởng Phòng tài nguyên và Môi trường thị xã B, (Xin vắng mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T trình bày: Năm 2016, vợ chồng ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 một mảnh đất có diện tích 926,1m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, cấp Giấy chứng nhận số BU 310191 vào sổ cấp GCN: CS 00068; ngày 03/3/2016 đứng tên ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T. Do có nhu cầu sử dụng đất ngày 29/12/2021; ông Nguyễn Bình A ký hợp đồng đo đạc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B đo đạc để xác định ranh giới để sử dụng thì phát hiện có ba hộ gia đình lấn chiếm diện tích đất của gia đình ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T; Cụ thể như sau: Hộ bà Đào Thị T1 lấn chiếm 73,6 m2; Hộ bà Lê Thị M lấn chiếm 131,6m2; Hộ ông Bùi Duy L1 lấn chiếm 13,5 m2, đã thương lượng, hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã B nhưng các hộ gia đình bà T1, bà M và gia đình ông L1 không đồng ý trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T. Ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông A và bà T phần đất đã lấn chiếm 73,6 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Đối với phần diện tích ông Bùi Duy L1 lấn chiếm 13,5 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước thì đã giải quyết bằng một quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ông L1 đã trả lại đất cho ông A và bà T nên không yêu cầu xem xét. Đối với phần đất có diện tích 131,6m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước thì ông Nguyễn Bình A với bà Ninh Thị Hồng T và bà Lê Thị M đã tự thỏa thuận với nhau. Ông A và bà T xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Lê Thị M.

Bị đơn bà Đào Thị T1 trình bày: Vào khoảng thời gian năm 1995, 1996, bà T1 có mua của một người tên D (Không nhớ rõ họ tên N1 sinh) một mảnh đất có diện tích 9962,2m2, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước nay là khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Giấy mua bán hiện nay không còn), đến nay đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 900m2, cấp đổi Giấy chứng nhận còn 700m2. Đối với diện tích đất của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T đang khởi kiện bà T1 là đất của bà T1 chưa được cấp sổ, toàn bộ diện tích đất của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T là đất của bà T1 canh tác từ trước đến nay. Bà T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 trình bày: Năm 2005 vợ chồng ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 nhận chuyển nhượng của bà Huỳnh Thị D1 (nay bà D1 đã chết), một mảnh đất có diện tích 926,1m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3, cũng trong năm 2005 ông K và bà T3 đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 926,1m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước nay là khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, vợ chồng ông K quản lý sử dụng canh tác trồng cây ngắn ngày, rau màu và có một số cây Xà Cừ, ranh giới sử dụng ổn định đến năm 2016 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, cấp Giấy chứng nhận số BU 310191 vào sổ cấp GCN: CS 00068; ngày 03/3/2016 đứng tên ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T, hiện nay ông A, bà T sử dụng như thế nào ông K, bà T3 không biết.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân phường A:

Gia đình bà Đào Thị Thanh k xây dựng hai bức tường trên đất của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T làm đường đi không trình báo Ủy ban nhân dân phường A trước khi xây dựng. Khu phố A cũng không trình báo Ủy ban nhân dân phường A vụ việc gia đình bà Đào Thị Thanh tranh c đất với ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T, cũng không có đơn kiến nghị hay trình báo để ngăn chặn việc gia đình bà Đào Thị T1 xây dựng 2 bức tường trên đất của ông Nguyễn Bình A và Ninh Thị Hồng T. Đến ngày 06/01/2022 Ủy ban nhân dân phường A mới nhận được đơn kiến nghị giải quyết tranh chấp đất đai của ông Nguyễn Bình A và Ủy ban nhân dân phường A đã tiến hành tổ chức hòa giải vào ngày 20/01/2022 và hướng dẫn đến Tòa án giải quyết theo quy định và Ủy ban nhân dân phường A chưa lập biên bản xử lý vi phạm do chưa xác định được bản chất hành vi lấn đất của bà Đào Thị T1.

Ý kiến của ông Tô Mạnh H1 đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã B:

Năm 2016, vợ chồng ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 một mảnh đất có diện tích 926,1m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước nay là khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, cấp Giấy chứng nhận số BU 310191 vào sổ cấp GCN: CS 00068; ngày 03/3/2016 đứng tên ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T. Mảnh đất có nguồn gốc năm 2005 ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 nhận chuyển nhượng của bà Huỳnh Thị D1 (nay bà D1 đã chết), bà Huỳnh Thị D1 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 700m2, cũng trong năm 2005 bà D1 chuyển nhượng cho ông K, bà T3 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích tăng 226,1m2 so với Giấy chứng nhận đã cấp. Phần diện tích chênh lệch giữa 2 lần cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do thời điểm năm 2005 xã A đo đạc chính quy nên trong quá trình đo đạc chính quy có sự chênh lệch diện tích tăng 226,1m2 như trên. Ủy ban nhân dân thị xã B đề nghị Tòa án căn cứ vào quá trình sử dụng đất, hồ sơ, chứng cứ liên quan và các quy định hiện hành để giải quyết vụ án khách quan theo đúng quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà các bên cung cấp và Tòa án thu thập được và kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa và quá trình các bên sử dụng đất, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T phần đất đã lấn chiếm 73,6 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Bình A và Ninh Thị Hồng T phần đất đã lấn chiếm 73,6 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại các Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự, Điều 203 Luật Đất đai. Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

[2] Về nội dung vụ án: Năm 2016, vợ chồng ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 một mảnh đất có diện tích 926,1m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, cấp Giấy chứng nhận số BU 310191 vào sổ cấp GCN: CS 00068; ngày 03/3/2016 đứng tên ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T. Qúa trình sử dụng đất bị bà Đào Thị T1 có hành vi lấn chiếm diện tích 73,6 m2 đất, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước và xây dựng tường gạch và lót nền xi măng làm lối đi từ nhà bà T1 ra lối công cộng. Nay ông A và bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông A và Thái phần đất có diện tích 73,6 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B.

Bà Đào Thị T1 không đồng ý với yêu cầu của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T, bà T1 cho rằng diện tích đang tranh chấp hiện nay là đất của bà T1.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Năm 2016, ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn K và bà Nguyễn Thị T3 một mảnh đất có diện tích 926,1m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, cấp giấy chứng nhận số BU 310191 vào sổ cấp GCN: CS 00068; ngày 03/3/2016 đứng tên ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T. Qúa trình sử dụng đất bị bà Đào Thị T1 có hành vi lấn chiếm diện tích 73,6 m2 đất và xây dựng trái phép tường gạch và nền xi măng làm lối đi từ nhà bà T1 ra lối công cộng. Nay ông A và bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông A và bà T phần đất có diện tích 73,6 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B là có cơ sở phù hợp với quy định tại các Điều 164, Điều 166 và Điều 169 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Bình A, bà Ninh Thị Hồng T diện tích đất 73,6 m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước,theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B.

[4] Xét lời trình bày của bà Đào Thị T1 vào khoảng thời gian năm 1995, 1996, bà T1 có mua (nhận chuyển nhượng) của một người tên D mà không xác định rõ họ tên năm sinh, không có giấy tờ mua bán) một mảnh đất có diện tích 9962,2m2, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước nay là khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Giấy mua bán hiện nay không còn). Bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 900m2, cấp đổi giấy chứng nhận còn 700m2 đất tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, bà T1 cho rằng toàn bộ diện tích 73,6m2 nói trên và cả phần đất diện tích 926,1m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại tổ F, khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, cấp giấy chứng nhận số BU 310191 vào sổ cấp GCN: CS 00068; ngày 03/3/2016 đứng tên ông Nguyễn Bình A và Ninh Thị Hồng T là đất của bà T1 nhưng bà T1 không đưa ra giấy tờ nhận sang nhượng, không có giấy chứng nhận, không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Đối với phần yêu cầu buộc bà Lê Thị M có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T phần đất có diện tích 131,6m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, các bên đã tự thỏa thuận với nhau, ông A, bà T tự nguyện xin rút phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Lê Thị M nên Hội đồng xét xử Đình chỉ phần yêu cầu của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T khởi kiện đối với bà Lê Thị M.

[6] Tài sản gắn với đất tranh chấp: Do gia đình bà T1 tự ý xây dựng trong phạm vi đất tranh chấp nên buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản ra khỏi diện tích đất 73,6 m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B, tài sản phải tháo dỡ di dời gồm: 2 Bức tường xây bằng gạch ống không tô, không trát dài 39, 4m, cao 1,4m (Hai bên lối); phía trước 2 bức tường xây bằng gạch ống không tô, không trát dài 1,56m, cao 1,4m; nền xi măng có bề ngang 5,46m dài 39, 4m.

Trường hợp bà Đào Thị T1 không tự nguyện tháo dỡ, di dời thì cưỡng chế thi hành án đập bỏ không bồi thường.

[7]. Ghi nhận ông Nguyễn Bình A hỗ trợ cho bà Đào Thị T1 số tiền 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) chi phí di tháo dở, di dời tài sản.

[8] Chi phí tố tụng: Căn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 3.000.000đ (Ba triệu đồng). ông Nguyễn Bình A tự nguyện chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp, theo phiếu thu ngày 17/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.

[9] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Do yêu cầu được chấp nhận nên ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Đào Thị Thanh c1 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 203 của Luật đất đai, các Điều 164, Điều 166 và Điều 169 của Bộ luật dân sự, Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T diện tích đất 73,6 m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B.
  2. Tài sản gắn với đất tranh chấp:
    1. Buộc bà Đào Thị T1 có nghĩa vụ phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản ra khỏi diện tích đất 73,6 m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/01/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã B, tài sản phải tháo dỡ di dời gồm: 2 Bức tường xây bằng gạch ống không tô, không trát, dài 39, 4m, cao 1,4m (Hai bên lối đi); phía trước 2 bức tường xây bằng gạch ống không tô, không trát, dài 1,56m, cao 1,4m; nền xi măng có bề ngang 5,46m dài 39, 4m.
    2. Trường hợp bà Đào Thị T1 không tự nguyện tháo dỡ, di dời thì cưỡng chế thi hành án đập bỏ không bồi thường.
  3. Ghi nhận ông Nguyễn Bình A hỗ trợ cho bà Đào Thị T1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chi phí di tháo dở, di dời tài sản.
  4. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T về việc “Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị M có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Bình A và Ninh Thị Hồng T phần đất có diện tích 131,6m2, thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
  5. Chi phí tố tụng: Căn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Ông Nguyễn Bình A tự nguyện chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp, theo phiếu thu ngày 17/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.
  6. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Đào Thị Thanh c1 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho ông Nguyễn Bình A và bà Ninh Thị Hồng T 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002580 ngày 05/4/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long.
  7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ này bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKS thị xã B;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHAND thị x B;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Đình Tùng

7

Lê Đình Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Đức Lưu Huy H2

Lê Đình T4

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 09/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền Sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger