|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 7 - 2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Biền Ngân
- Ông Hoàng Anh Huê
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1989
Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Số A, đường N, tổ dân phố I, khu phố P, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. - Bị đơn: Chị Đặng Thị Ngọc B, sinh năm 1996
Địa chỉ: C, thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/01/2024, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Phan Văn T trình bày: Anh và chị Đặng Thị Ngọc B có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 09/11/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ vợ ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc một thời gian đến năm 2018 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu tính tình, không cùng suy nghĩ, bất đồng quan điểm, vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay anh T thấy vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đặng Thị Ngọc B. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Phan Đặng Hoài T1, sinh ngày 04/5/2016 và đang do chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh T có nguyện vọng giao con chung cho chị Đặng Thị Ngọc B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh T cấp dưỡng nuôi con nếu chị B yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 30/5/2024, anh T trình bày do điều kiện công việc nên anh không thể có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa và xin Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử vắng mặt anh T.
Trong đơn trình bày, đơn xin xét xử vắng mặt ngày 30/5/2024, bị đơn chị Đặng Thị Ngọc B trình bày: Chị và anh Phan Văn T có quá trình tìm hiểu tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 09/11/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại nhà bố mẹ chị B tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu tính tình nhau, không cùng suy nghĩ, bất đồng quan điểm, vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Chị B thấy tình cảm vợ chồng không còn giữa vợ chồng không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B đồng ý ly hôn với anh Phan Văn T. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên là Phan Đặng Hoài T1, sinh ngày 04/5/2016. Sau khi ly hôn chị B có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Anh Phan Văn T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với chị Đặng Thị Ngọc B, cư trú tại C, thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phan Văn T và chị Đặng Thị Ngọc B nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phan Văn T và chị Đặng Thị Ngọc B theo quy định tại các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn T và chị Đặng Thị Ngọc B kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 09/11/2015; vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị B hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T và chị B chung sống hạnh phúc một thời gian, tuy nhiên trong thực tế đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Anh T và chị B đều trình bày không còn tình cảm với nhau và mong muốn được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống của bản thân. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị B đã trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho anh Phan Văn T được ly hôn với chị Đặng Thị Ngọc B là phù hợp với Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án anh T và chị B đều trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Phan Đặng Hoài T1, sinh ngày 04/5/2016. Sau khi ly hôn anh T và chị B thống nhất giao cháu Phan Đặng Hoài T1 cho chị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị B yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tại đơn trình bày ý kiến, cháu Phan Đặng Hoài T1 trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì cháu xin được ở với mẹ. Xét thấy, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho con chung của anh T và chị B, Hội đồng xét xử giao cháu Phan Đặng Hoài T1 cho chị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, buộc anh Phan Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Đặng Thị Ngọc B mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh T và chị B trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Anh Phan Văn T phải chịu nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Xét xử vắng mặt anh Phan Văn T và chị Đặng Thị Ngọc B.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Phan Văn T được ly hôn chị Đặng Thị Ngọc B.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Đặng Hoài T1, sinh ngày 04/5/2016 cho chị Đặng Thị Ngọc B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; anh Phan Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Đặng Thị Ngọc B mỗi tháng 1.000.000₫ (Một triệu đồng), thời gian kể từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi cháu Phan Đặng Hoài T1 tròn 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Buộc anh Phan Văn T phải chịu nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ để sung công quỹ Nhà nước. Số tiền án phí anh T phải nộp được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch theo biên lai số 0002067 ngày 22/02/2024. Anh T phải nộp thêm 300.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Sơn |
Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh T làm đơn xin ly hôn chị B
