Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAM RÔNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày: 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Hải Dương.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lê Công Trọng;
    • Ông Nguyễn Văn Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn D, sinh ngày: 19 tháng 7 năm 1966 tại Bình Định; Nơi cư trú: thôn E, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Cán bộ công chức; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D1 (đã chết) và bà Ngô Thị H (đã chết); Có vợ K' Thóe và 02 con.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị bắt tạm giữ ngày 27/01/2024 được thay thế biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/02/2024. Bị cáo đang tại ngoại tại thôn E, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1981 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Dương Thị T1; Có vợ Đỗ Thị H1 và 02 con.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân: Ngày 26/10/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15.000.000 đồng về Tội đánh bạc, chấp hành xong bản án ngày 19/11/2015.

    Bị bắt tạm giữ ngày 27/01/2024 được thay thế biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/02/2024. Bị cáo đang tại ngoại thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Thị Đ, sinh ngày: 18 tháng 7 năm 1979 tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình M và bà Nguyễn Thị L; có chồng là Đậu Trường S1 (đã ly hôn) và 02 con;

    Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân: Ngày 05/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 35.000.000 đồng về Tội đánh bạc, chấp hành xong bản án ngày 27/4/2022.

    Bị bắt tạm giữ ngày 27/01/2024 được thay thế biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/02/2024. Bị cáo đang tại ngoại thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Mai Văn N, sinh ngày: 28 tháng 9 năm 1981 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn I, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Công chức; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H2 và bà Dương Thị T2; Có vợ Chu Thị T3 và 02 con.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị bắt tạm giữ ngày 27/01/2024 được thay thế biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/02/2024. Bị cáo đang tại ngoại thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn D là đảng viên, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã L, huyện Đ; Mai Văn N là đảng viên, Công chức Tư pháp Hộ tịch UBND xã Quảng Hòa, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị Đ là đối tượng có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông xét xử về Tội đánh bạc.

Vào khoảng 16 giờ ngày 27/01/2024, cả 04 bị cáo tập trung tại nhà bị cáo D thuộc thôn E, xã L, huyện Đ. Tại đây, khi S rủ đánh bạc thì tất cả đồng ý. D chuẩn bị 02 bộ bài T4 lơ khơ rồi trải chiếu, mền tại phòng khách để phục vụ việc đánh bạc. Các bị cáo thống nhất đánh bạc dưới hình thức Phỏm, được thua bằng tiền mặt, không thu xâu, mỗi người đậu chớn 2.000.000 đồng, mức sát phạt từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng/người/ván. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang, thu giữ: 01 chiếc chiếu nhựa kích thước 1,6x1,8m, 01 chiếc mền màu đỏ, bên trên có 8.000.000 đồng và 02 bộ bài T4 lơ khơ, bìa màu xanh, đã qua sử dụng.

T5 trên người Nguyễn Thị Đ 35.000.000 đồng, 02 điện thoại di động; Nguyễn Văn S 150.000 đồng, 01 điện thoại di động; Mai Văn N 10.000.000 đồng, 01 điện thoại di động; Lê Văn D 01 điện thoại động. Xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả tiền, điện thoại thu giữ trên người cho các bị cáo.

Cơ quan điều tra đã chứng minh được vai trò của từng bị cáo như sau: Lê Văn D là chủ nhà, chuẩn bị công cụ và sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn S là người rủ rê, mang theo 2.150.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Thị Đ mang theo 37.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; Mai Văn N mang theo 12.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc.

Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Đ, Mai Văn N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự với bị cáo Lê Văn D và Mai Văn N; áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự với bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị Đ. Tuyên bố các bị cáo bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Đ, Mai Văn N phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Lê Văn D và Mai Văn N mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị Đ từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.000.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, bìa màu xanh đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mền màu đỏ có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu nhựa, kích thước 1,6 x 1,8m, đã qua sử dụng. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, rất ăn năn hối cãi nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 27/01/2024, tại nhà bị cáo D ở thôn E, xã L, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức Phỏm, được thua bằng tiền mặt, không thu xâu, mỗi người đậu chớn 2.000.000 đồng, mức sát phạt từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng/người/ván. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.000.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của mỗi bị cáo là 2.000.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Đ, Mai Văn N phạm tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự

[3] Xét tính chất hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì các bị cáo biết việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội. Hiện nay, tệ nạn đánh bạc trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của nhân dân và hạnh phúc của nhiều gia đình, đánh bạc cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lê Văn D và Mai Văn N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo D và N trong là cán bộ công chức, trong quá trình công tác cũng có nhiều thành tích, được ghi nhận. Cụ thể, bị cáo D nhiều năm liền được Công nhận danh hiệu lao động tiên tiến, năm 2014 được công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, bị cáo còn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L và Chủ tịch UBND huyện Đ tặng nhiều Giấy khen; năm 2019, bị cáo D được Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp thống kê Việt Nam nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Mai Văn N cũng nhiều năm liền được công nhận dân hiệu lao động tiên tiến, bị cáo cũng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ tặng Giấy khen trong quá trình công tác nên cũng được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về quyết định hình phạt: Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý, vì lợi ích cá nhân, số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.000.000 đồng, trong đó số tiền đánh bạc của mỗi bị cáo là 2.000.000 đồng. Tuy nhiên các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, các bị cáo đánh bạc với mục đích ăn thua bằng tiền nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo đủ để đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung và phù hợp với quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị Đ có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tiền về Tội “đánh bạc”, tuy đã được xóa án tích nhưng các bị cáo không xem đó là bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, do vậy cần xử phạt tiền các bị cáo với số tiền lớn mới đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục các bị cáo. Các bị cáo Lê Văn D và Mai Văn N là cán bộ công chức, là đảng viên nhưng không gương mẫu chấp hành pháp luật, thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nhưng các bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo D còn sử dụng nhà của mình làm nơi đánh bạc, chuẩn bị công cụ, phương tiện để các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc nhưng bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, bị cáo N có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy mức phạt tiền đối với bị cáo D và N là như nhau và thấp hơn mức phạt tiền áp dụng với bị cáo S và Đ.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo bị xử phạt tiền nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 35.000.000 đồng và 02 điện thoại di động thu trên người bị cáo Nguyễn Thị Đ; số tiền 150.000 đồng và 01 điện thoại di động thu trên người bị cáo Nguyễn Văn S; số tiền 10.000.000 đồng và 01 điện thoại di động thu trên người bị cáo Mai Văn N; 01 điện thoại động thu trên người bị cáo Lê Văn D. Xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả tiền, điện thoại thu giữ trên người cho các bị cáo là đúng quy định.
  • - Số tiền 8.000.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc khi bắt quả tang là tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, bìa màu xanh đã qua sử dụng; 01 chiếc mền màu đỏ có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng và 01 chiếc chiếu nhựa, kích thước 1,6 x 1,8m, đã qua sử dụng thu được trên chiếu bạc là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc, xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về các vấn đề khác: Lê Văn D sử dụng nhà của mình để cùng các bị cáo khác tham gia đánh bạc trái phép, tuy nhiên bị cáo D không có các hành vi quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự do đó hành vi của Lê Văn D sử dụng nhà của mình để đánh bạc không đủ yếu tố cầu thành tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự với bị cáo Lê Văn D;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự với bị cáo Mai Văn N;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự với bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Nguyễn Thị Đ.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự;

Căn cứ các điều 106, 135, 136, 299, 326, 329, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn D, Mai Văn N, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Lê Văn D 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) đã nộp biên lai thu số 0001645 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông. Bị cáo còn phải nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Mai Văn N 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
  3. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), theo biên bản ủy nhiệm chi ngày 27/3/2024 của Công an huyện Đ cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, bìa màu xanh đã qua sử dụng; 01 chiếc mền màu đỏ có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng và 01 chiếc chiếu nhựa, kích thước 1,6 x 1,8m, đã qua sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông.
  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - VKSND huyện Đam Rông (02);
  • - Chi cục THADS huyện Đam Rông (01);
  • - Công an huyện Đam Rông (02);
  • - Bộ phận theo dõi THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Hải Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn D cùng đồng phạm "đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger