Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/01/2024

V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Diệp Thị Thu Nguyệt và ông Nguyễn Thành Phước.
  • Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: ông Bùi Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: anh Lê Thanh T, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn chị T có mặt. Bị đơn anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương T trình bày:

Qua thời gian tìm hiểu, chị với anh Lê Thanh T quyết định sống chung với nhau vào năm 2012, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng diễn ra êm ấm, hạnh phúc. Tuy nhiên khi chị sinh con đầu thì anh T bắt đầu thờ ơ, không chăm sóc vợ con, tiền bạc không đưa đủ cho chi phí sinh hoạt gia đình, ngoài ra chị còn phát hiện anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Chị đã nói chuyện với anh Tuần thì anh kiếm chuyện đánh và đòi giết chị. Vì quá mệt mỏi nên chị quyết định lên Bình Dương làm công nhân, anh T cũng lên theo. Thời gian này vợ chồng cũng mâu thuẫn do anh T lại bồ bịch, đánh đập chị. Chị đã cho anh T nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục sống chung với anh T được nữa nên chị T yêu cầu giải quyết như sau:

  • + Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Phương T xin được ly hôn với anh Lê Thanh T.
  • + Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Lê Nguyễn Tuấn H sinh ngày 05/3/2013 và Lê Nguyễn Tuấn Kh sinh ngày 30/7/2018. Sau ly hôn chị T yêu cầu được nuôi cả hai con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Tại Biên bản hòa giải giải ngày 27/11/2023, anh Lê Thanh T trình bày:

Anh với chị Nguyễn Thị Phương T chung sống vào năm 2013, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh không biết lý do vì sao vợ xin ly hôn. Theo anh thì vợ có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, có nhắn tin qua lại với nhau, anh có nói chuyện nhưng vợ không thừa nhận. Anh cũng đã bỏ qua, không nhắc tuy nhiên vẫn thấy nhiều cuộc gọi đến vào điện thoại của vợ. Sau đó hai vợ chồng cãi nhau, anh bỏ đi làm. Gần đây thì nhận được thông báo của Tòa án về việc vợ xin ly hôn. Nay ý kiến của anh T như sau:

  • + Về quan hệ hôn nhân: anh T không đồng ý ly hôn với chị T.
  • + Về quan hệ con chung: thống nhất anh với chị T có 02 con chung tên Lê Nguyễn Tuấn Huy sinh ngày 05/3/2013 và Lê Nguyễn Tuấn Khang sinh ngày 30/7/2018.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

  • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

  • + Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa nên đã tự từ bỏ quyền của mình.

  • + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Phương T được ly hôn với anh Lê Thanh T.

Về con chung: giao con chung Tuấn H và Tuấn K cho chị T được nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.

Chị T là nguyên đơn nên phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Lê Thanh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

[1.2] Bị đơn anh Lê Thanh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Chị Nguyễn Thị Phương T và anh Lê Thanh T chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93/kh, quyển số 01/2012, ngày 21/8/2012. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương T, thấy: trong quá trình sống chung với nhau, là một người chồng nhưng anh T không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, không lo làm ăn, để một mình chị T phải xoay sở mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình. Ngoài ra anh T còn có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, anh T đã nhiều lần đánh đập chị T gây thương tích. Trong quá trình sống ly thân anh T thường xuyên nhắn tin, tìm gặp để hăm dọa ảnh hưởng đến tính mạng của chị T. Theo bà Nguyễn Thị Phương Khanh (mẹ ruột chị T) cũng cho biết anh T không chịu làm ăn, thường xuyên bồ bịch, đánh đập vợ.

Trong quá trình hòa giải anh T không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với chị T nhưng anh T không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã nhiều lần tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[2.3] Về quan hệ con chung: chị T và anh T có 02 con chung tên Lê Nguyễn Tuấn H sinh ngày 05/3/2013 và Lê Nguyễn Tuấn K sinh ngày 30/7/2018 hiện cả hai con đang được chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/11/2023 nguyện vọng của cháu H là được sống cùng với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Trong quá trình giải quyết, anh T cũng không có ý kiến tranh chấp về phần con chung. Xét thấy, có đủ căn cứ để giao con chung Tuấn H và Tuấn Kh cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: không có.

[3] Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

[4] Về án phí: chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương T.

  • - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Phương T được ly hôn với anh Lê Thanh T.
  • - Về quan hệ con chung:

Giao con chung Lê Nguyễn Tuấn H sinh ngày 05/3/2013 và Lê Nguyễn Tuấn Kh sinh ngày 30/7/2018 cho chị Nguyễn Thị Phương T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Lê Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Phương T và anh Lê Thanh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định

  • - Về tài sản chung và nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Phương T và anh Lê Thanh T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012149 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo:

  • - Chị Nguyễn Thị Phương T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Anh Lê Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKS huyện Thoại Sơn;
  • - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã Vĩnh Trạch;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoài Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Phương T xin ly hôn anh Lê Thanh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger