|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/HSST Ngày: 09/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ.
Ông Nguyễn Duy Tuyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 335/2023/TLST-HS ngày 19/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 322/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Quý N. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 28 tháng 01 năm 1992 tại Hà Nội. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Hoàng Văn C, sinh năm 1955 (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1960. Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1992, có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 01/9/2023. Tạm giam từ ngày 01/9/2023 đến ngày 18/10/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 622 ngày 31/8/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thị L. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998, tại huyện S, thành phố Hà Nội. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974. Con bà: Trịnh Thị H, sinh năm 1974. Chồng: Tống Văn M (đã ly hôn năm 2020), có 01 con, sinh năm 2019. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 01/9/2023. Tạm giam từ ngày 01/9/2023 đến ngày 18/10/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 625 ngày 31/8/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13 tháng 11 năm 1996, tại huyện S, thành phố Hà Nội. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971. Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 01/9/2023. Tạm giam từ ngày 01/9/2023 đến ngày 18/10/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 624 ngày 31/8/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Quỳnh H2. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16 tháng 8 năm 2005, tại Hà Nội. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Sinh viên. Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Nguyễn Duy N1, sinh năm 1979. Con bà: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1979. Chồng, con: Chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 736 ngày 14/10/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Ngô Quang H4. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 06 tháng 3 năm 2007 tại Hà Nội (khi phạm tội 16 tuổi 05 tháng 16 ngày). Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Ngô Minh Q1, sinh năm 1984. Con bà: Nguyễn Ánh T2, sinh năm 1985. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ: Từ ngày 23/8/2023 đến ngày 31/8/2023. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 626 ngày 31/8/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thành N2. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội (khi phạm tội 16 tuổi 03 tháng 25 ngày). Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Đang học lớp 11. Chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1979. Con bà: Nguyễn Bích H5, sinh năm 1983. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Tạm giữ: Từ ngày 23/8/2023 đến ngày 31/8/2023. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. D1, chỉ bản số 623 ngày 31/8/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Quang H4: Ông Ngô Minh Q1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Ánh T2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, Hà Nội. Có mặt ông Q1.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thành N2: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Bích H5, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn D, xã T, huyện S, Hà Nội. Có mặt ông T3.
- Người bào chữa cho các bị cáo Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2: Ông Vũ Văn D2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh C1 - Sinh ngày 10/02/2001. Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Quang V, sinh ngày 01/8/2001. Trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Duy N1, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn Đ, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 7/2023, do hệ thống cống thoát nước quán Helo Fastfood do Nguyễn Thị L, sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã T, huyện S, Hà Nội và Nguyễn Văn T, sinh năm 1996, trú tại thôn S, xã T, huyện S, Hà Nội làm chủ và quán Cooler City do Hoàng Quý N, sinh năm 1992, trú tại thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội làm chủ ở tại tổ C, thị trấn S, huyện S bị tắc nên N và L, T1 thống nhất thuê Nguyễn Trần T4, sinh năm 1991, trú tại: Khu E, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ thông tắc với giá 12.000.000 đồng, bảo hành 02 năm. Sau đó, T4 cùng với Đặng Văn Đ1 (không rõ lai lịch) và Đỗ Quang V, sinh năm 2001, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ thực hiện việc thông cống nhưng vẫn không được. N nhiều lần gọi điện cho Đ1, T4, V qua số điện thoại 0978.128.xxx để yêu cầu tiếp tục đến bảo hành nhưng T4, Đ1, V không đến và chặn liên lạc. N bàn bạc với T và L về việc phải tìm bắt nhóm của Đ1 đưa về quán để giải quyết dứt điểm việc thông cống.
Khoảng 13 giờ ngày 22/8/2023, Nguyễn Quỳnh H2, sinh ngày 16/8/2005, trú tại thôn Đ, xã X, huyện Đ, Hà Nội là nhân viên quán của N đang chuẩn bị đi về nhà thì N nhờ H2 gọi đến số 0978.128.331 của nhóm Đ1 để giả làm khách thuê thông tắc cống. H2 đồng ý và dùng điện thoại gọi nói theo lời của N nên đã hẹn được T4 đến thông tắc cống tại xã X, huyện Đ, Hà Nội. Do đang đi làm trên Lào Cai nên T4 đã chuyển lại việc cho V để đi làm, V nhận lời và rủ Nguyễn Minh C1, sinh năm 2004, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đi làm cùng. V đưa cho C1 chiếc điện thoại Iphone 14 promax, gắn sim 0835204444 để liên lạc với H2 hỏi địa điểm làm việc. H2 gửi vị trí nhà H2 qua tài khoản Zalo Cty môi trường U. Sau đó, C1 cùng V đến xã P, huyện S chờ.
Sau khi hẹn được với nhóm của T4, N và H2 thông báo cho L, T biết đã hẹn được nhóm của T4 ở gần nhà H2 và cùng thống nhất nhờ H2 dẫn đường để đi bắt về quán nói chuyện. Lúc này, Ngô Quang H4, sinh ngày 06/3/2007, trú tại thôn S, xã T, huyện S, Hà Nội là nhân viên quán của L biết chuyện nên đã nói "để em đi bắt cho" thì N, T, L đồng ý. N nhờ H4 gọi thêm người để đi bắt nhóm của T4 và hứa sẽ cho H4 1.000.000 đồng. Sau đó, H4 gọi điện qua M1 cho Nguyễn Thành N2, sinh ngày 27/4/2007, trú tại thôn D, xã T, huyện S, Hà Nội nhờ cùng đi bắt người thì N2 đồng ý. N2 cầm theo 01 chiếc gậy ba khúc để trong ba lô rồi đi ra quán của T, L để chuẩn bị đi.
Khoảng 13 giờ 30 phút, H4 cầm theo 01 con dao màu đen (chiều dài 40cm, cán hình trụ, dày 0,3cm) để trên yên xe thì T nhìn thấy nên đã mang vào trong quán cất. Cả nhóm thống nhất H2 dẫn đường để T, H4 và N2 đi cùng. Trước khi đi, H4 tiếp tục vào trong quán lấy con dao cho vào túi nilong màu xanh rồi mang theo. Sau đó, T chở H2 bằng xe máy, H4 chở N2 bằng xe máy Honda Wave BKS 29S1-865.92 cùng nhau đi xuống xã X, huyện Đ. Khi đi đến ngã tư huyện S thì xe máy của H2 bị hỏng, nên T về quán lấy xe máy Honda Airblade BKS 29S6-259.62 quay lại đón H2. H4 và N2 đi đến xã P, huyện S thì gặp Phạm Xuân Đ2, sinh ngày 22/9/2007, trú tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội. H4 rủ Đ2 đi có việc (không nói rõ mục đích đi làm gì) thì Đ2 đồng ý. Một lúc sau, T và H2 đi đến, cả nhóm rẽ vào đường đê hướng thôn Đ, xã X, huyện Đ, Hà Nội thì dừng lại chờ.
Do trước đó H2 gửi vị trí nhầm nên C1 gọi điện báo gửi lại thì H2 gửi lại vị trí cả nhóm đang đứng chờ. Sau khi nhận được vị trí, V bảo C1 đi vào khảo sát trước, C1 cầm theo điện thoại của V đưa và điều khiển xe máy Honda Wave BKS 19H1-278.16 đi theo vị trí H2 gửi. Khi đến thôn Đ, xã X, huyện Đ thì C1 dừng xe trên mặt đường đê, lúc này T điều khiển xe máy chở H2 đi lên trên đê, xuống xe và hỏi C1 "anh có phải thợ thông cống không". Đồng thời Đ2 điều khiển xe máy chở H4, N2 điều khiển xe máy đi theo sau cùng đi lên mặt đê. H4 xuống xe thì Đ2 điều khiển xe đi về. H4 đứng chặn đầu xe C1 và giơ dao lên doạ "Đ. mẹ mày có phải thằng thông cống không". C1 hoảng sợ nên bỏ chạy, H4 cầm dao đuổi theo sau, chạy được khoảng 50m thì C1 bị ngã, H4 đuổi kịp và dùng tay kéo áo C1 đứng lên, C1 vùng người tiếp tục quay đầu bỏ chạy lại phía Tần, H2 thì bị rơi chiếc điện thoại Iphone 14 promax. Nguyên thấy C1 chạy quay lại nên cầm gậy ba khúc ném về phía C1 nhưng không trúng. H4 thấy C1 làm rơi điện thoại nên nhặt rồi đuổi theo sau C1. Khi C1 chạy quay lại thì T và H2 hô H4 và N2 dừng lại không đuổi nữa, C1 đứng ở phía sau Tần. Lúc này, T biết C1 không phải T4, Đ2, V nhưng nghĩ là cùng đội thợ nên đã bắt C1 lên xe máy để đưa về quán nói chuyện. Tần, H4 bắt C1 ngồi giữa, T điều khiển xe máy, H4 ngồi kẹp phía sau. H2 điều khiển xe máy của T đi về trước, N2 điều khiển xe máy của C1 theo sau. Khi đi được một đoạn khoảng 50 m thì C1 bị rơi chiếc điện thoại Readmi nên T dừng xe để H4 xuống nhặt. Khi đi đến cầu P, N2 đã ném chiếc gậy ba khúc xuống sông. Khi đến ngã ba P thấy công an giao thông, do không có giấy phép lái xe mô tô nên H2 rẽ sang đường Q để đi về quán. T bảo H4 qua xe N2 rồi cùng nhau đi về quán.
Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T chở C1 về đến cửa quán H6, H4 đưa lại 02 điện thoại cho C1, C1 đi vào bên trong quán cởi áo khoác ngoài và để 02 điện thoại trên bàn rồi đi ra phía sau quán rửa tay chân. Sau đó, C1 đi ra ngoài cửa quán ngồi hút thuốc rồi quay vào trong quán ngồi ở bàn uống nước, nói chuyện với T, L, N. L hỏi C1 về Đ2 thì C1 bảo không biết, L nhìn thấy C1 để điện thoại Iphone 14promax ở bàn nên hỏi "thông cống cũng dùng điện thoại 14 cơ à", C1 bảo máy của quản lý đưa, nên L bảo C1 cho xem thông tin người quản lý. Sau khi kiểm tra điện thoại thì L biết máy này là của V và có lưu số điện thoại của T4 nên đã nhờ C1 gọi cho T4. C1 gọi cho T4 nói "anh làm ăn như thế nào để người ta giữ em lại thế này, anh đến giải quyết cho họ đi". L bảo C1 đưa điện thoại để L nói chuyện với T4. L yêu cầu T4 đến để nói chuyện về việc thông cống thì T4 bảo ở xa không đến được và nói không liên quan. L bảo sẽ đưa C1 và điện thoại lên Cơ quan công an để giải quyết thì T4 bảo "em muốn làm gì thì làm" rồi T4 tắt máy. L đưa lại điện thoại cho C1 rồi bảo "việc không liên quan đến em, nhưng chị muốn giữ lại điện thoại để cho chủ điện thoại lên giải quyết việc thông cống", C1 đồng ý và bảo "chị cứ cầm đi". Do máy cài FaceID của C1 nên L nhờ Chí thoát, Lương cài mật khẩu mở máy là 9999. L bảo C1 viết giấy để lại điện thoại vì không liên quan đến C1, C1 đồng ý nhưng không biết viết nên L đọc cho C1 viết rồi cả hai cùng ký tên. Sau đó, L đưa 100.000 đồng cho H4 để đưa cho C1 đổ xăng đi về. C1 nhận tiền rồi cầm điện thoại và lấy xe đi về.
Về tạm giữ, xử lý vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
- Của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, dung lượng 128 GB, vỏ màu tím, số IMEI 1: 350089113338726 và số IMEI 2: 350089113269285; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng, số Imei: 1353890106420455, số I: 353890106373001; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS 29H9 – 6321, số máy HA05E – 0079468, số khung RLHHA0603WY079472; 01 phiếu thu có tên Nguyễn Thị L; 01 giấy viết tay có tên Nguyễn Minh C1; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 29S6 – 259.62, số máy JF27E0961594, số khung RLHJF2704BY835589.
- Của Nguyễn Thị L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu đen, số Imei 1: 356719111643495, số Imei 2: 356719115348646.
- Của Hoàng Quý N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 Ultra 5G, vỏ màu đen, số I: 352649110971601/01.
- Của Ngô Quang H4 01 con dao màu đen (chiều dài 40cm, cán hình trụ, dày 0,3cm).
- Của Nguyễn Quỳnh H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu đen, số I: 352901111490531. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này của ông Nguyễn Duy N1, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã X, huyện Đ, Hà Nội (là bố đẻ của H2) cho H2 mượn.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, xác định là tài sản hợp pháp của Đỗ Quang V, ngày 29/11/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh V.
Đối với chiếc xe máy Honda Dream BKS 29H9 – 6321 Tần khai mua của một nam giới không quen biết qua mạng xã hội Facebook. Quá trình điều tra xác định đăng ký tên Nguyễn Thiên S, địa chỉ: Khu B, thị trấn S, huyện S, Hà Nội, đăng ký mới năm 1998. Năm 2008, ông S chết, đến năm 2011 bà Nguyễn Thị Đ3 là vợ ông S đã bán chiếc xe máy trên. Do thời gian đã lâu nên không nhớ bán cho ai. Giám định số khung, số máy xác định là số nguyên thủy.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblade, BKS 29S6 – 259.62. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này Tần mượn của Nguyễn Hiếu T5, sinh ngày 08/6/2005, trú tại thôn S, xã T, huyện S, Hà Nội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là tang vật vụ án Trộm cắp tài sản thuộc thẩm quyền điều tra của Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã chuyển chiếc xe máy trên cho Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với chiếc gậy ba khúc của Nguyễn Thành N2 vứt xuống sông C. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không phát hiện được.
Đối với Phạm Xuân Đ2: Khi H4 rủ không nói rõ đi đâu, Đ2 không biết và không tham gia việc bắt giữ C1 nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với việc L đề nghị C1 viết giấy để lại điện thoại Iphone 14 promax thì C1 đồng ý và tự nguyện viết giấy để lại. Thời điểm ở quán, C1 không bị đe doạ, ép buộc giao tài sản. Do đó, đây là thoả thuận dân sự nên không có căn cứ để xem xét xử lý đối với các bị cáo về hành vi Cưỡng đoạt tài sản.
Đối với Ngô Quang H4: H4 chỉ được N nhờ đi bắt giữ người, khi thấy C1 đánh rơi điện thoại H4 đã nhặt, sau đó khi về đến cửa quán H4 đã trả lại luôn cho C1. Hành vi của H4 không có mục đích chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ để xem xét xử lý về hành vi Cướp tài sản.
Đối với Nguyễn Thành N2: Sau khi bắt được C1, N2 điều khiển xe máy của C1 về quán và mang chìa khoá xe trả lại cho C1. Hành vi của N2 không có mục đích chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ để xem xét xử lý về hành vi Cướp tài sản.
Về phần dân sự: Đối với thương tích của anh C1, do vết thương trầy xước nhẹ nên anh C1 từ chối giám định thương tích. Ngoài ra, do không bị thiệt hại gì về tài sản nên anh Nguyễn Minh C1 và anh Đỗ Quang V không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Quỳnh H2, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2 thừa nhận: Do bức xúc trước việc nhóm của Nguyễn Trần T4, Đặng Văn Đ1 và Đỗ Quang V thực hiện việc thông cống cho các bị cáo nhưng không có hiệu quả. N nhiều lần gọi điện cho Đ1, T4, V qua để yêu cầu họ tiếp tục đến bảo hành nhưng T4, Đ1, V không đến và chặn liên lạc. Do đó, ngày 22/8/2023 các bị cáo đã có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật đối với Nguyễn Minh C1 là người trong nhóm thông cống cùng với V đưa về quán H6 tại tổ C, thị trấn S, huyện S, Hà Nội để giải quyết dứt điểm việc thông cống.
Tại cáo trạng số 297/VKS-HS ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố: Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Quỳnh H2 về tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 (đối với H4, N2 áp dụng Điều 90, 91, 101) Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- + Hoàng Quý N với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- + Nguyễn Thị L với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- + Nguyễn Văn T với mức án từ từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- + Nguyễn Quỳnh H2 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- + Ngô Quang H4 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- + Nguyễn Thành N2 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- Về phần bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên không phải đặt ra để giải quyết
- Về vật chứng:
- + Trả lại bị cáo L 01 điện thoại di động; Trả lại bị cáo N 01 điện thoại di động; Trả lại ông N1 01 điện thoại di động.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS 29H9 – 6321.
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 lưỡi dao bằng kim loại.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo Ngô Quang H4, Nguyễn Thành Nguyên phát biểu quan điểm: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo H4, N2 đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại có lời khai đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo H4, N2 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, khi thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 18 tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cho các bị cáo H4, N2 được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và cho hưởng án treo. Về phần bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu gì. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2} Về nội dung vụ án:
Tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Quỳnh H2 thừa nhận: Do bức xúc trước việc nhóm của Nguyễn Trần T4, Đặng Văn Đ1 và Đỗ Quang V thực hiện việc thông cống cho các bị cáo nhưng không được. N đã nhiều lần gọi điện cho Đ1, T4, V để yêu cầu tiếp tục đến bảo hành nhưng T4, Đ1, V không đến và chặn liên lạc. Do đó, vào ngày 22/8/2023 các bị cáo đã có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật đối với Nguyễn Minh C1 là người trong nhóm thông cống cùng với V đưa về quán H6 tại tổ C, thị trấn S, huyện S, Hà Nội để giải quyết dứt điểm việc thông cống. Sau khi bắt giữ, biết C1 không liên quan gì đến việc thông cống của mình nên các bị cáo đã cho C1 100.000 đồng để mua xăng đổ vào xe máy đi về.
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Quỳnh H2 đã phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì chẳng những đã xâm phạm đến thân thể, quyền tự do, uy tín, danh dự của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Do đó cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức vì không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T có vai trò chính. Các bị cáo Nguyễn Quỳnh H2, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2 có vai trò đồng phạm giúp sức đơn giản.
Bản cáo trạng số 297/VKS-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố: Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Quỳnh H2 về tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.
{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Ông nội bị cáo L được tặng Huy chương kháng chiến vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Khi phạm tội các bị cáo Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2 là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị hại có lời khai xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo L hiện đang mang thai; bị cáo H2 đang là sinh viên trường Đại học K; bị cáo N2 đang học lớp 11. Do đó, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
{3} Về phần bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Minh C1 không bị thiệt hại gì và không yêu cầu bồi thường nên không phải đặt ra để giải quyết.
{4} Về vật chứng:
- Trả lại Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng, số Imei: 1353890106420455, số I: 353890106373001.
- Trả lại Nguyễn Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu xanh, số Imei 1: 356719111643495, số Imei 2: 356719115348646.
- Trả lại Hoàng Quý N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 Ultra 5G, vỏ màu đen, số I: 352649110971601/01.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu đen, số Imei: 352901111490531 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, đeo biển kiểm soát 29H9 – 6321, số máy HA05E – 0079468, số khung RLHHA0603WY079472 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao bằng kim loại chiều dài 40cm.
{5} Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.
{6} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Quỳnh H2 phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật.
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Hoàng Quý N 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Nguyễn Thị L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Nguyễn Quỳnh H2 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Ngô Quang H4 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Nguyễn Thành N2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao Hoàng Quý N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Giao Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Giao Nguyễn Thành N2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Giao Nguyễn Quỳnh H2 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Trả lại Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng, số Imei: 1353890106420455, số I: 353890106373001.
- Trả lại Nguyễn Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu xanh, số Imei 1: 356719111643495, số Imei 2: 356719115348646.
- Trả lại Hoàng Quý N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 Ultra 5G, vỏ màu đen, số I: 352649110971601/01.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu đen, số Imei: 352901111490531 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, đeo biển kiểm soát 29H9 – 6321, số máy HA05E – 0079468, số khung RLHHA0603WY079472.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao bằng kim loại chiều dài 40cm. (Tình trạng các vật chứng trên như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/12/2023 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
- Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo H4, N2; người đại diện hợp pháp của các bị cáo H4, N2, ông Nguyễn Duy N1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và anh Đỗ Quang V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần tài sản có liên quan.
|
Nơi nhận:
|
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |
Bản án số 09/2024/HSST ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 09/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Quý N, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Quỳnh H2 phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật. - Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: 1. H7 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án. 2. Nguyễn Thị L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. 3. Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. 4. Nguyễn Quỳnh H2 08 (T6) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. - Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: 5. Ngô Quang H4 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án. 6. Nguyễn Thành N2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao Hoàng Quý N3 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Giao Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T, Ngô Quang H4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Giao Nguyễn Thành N2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Giao Nguyễn Quỳnh H2 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.
