TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/KDTM-PT
Ngày: 08 - 7 - 2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đức Cảnh
Bà Mai Thị Minh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại thụ lý số: 10/2024/TLPT-KDTM ngày 15-01-2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án số 15/2023/KDTM-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐPT-KDTM ngày 31/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S2(S3); địa chỉ: số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc Ngân hàng.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế H - Giám đốc Ngân hàng S3 - Chi nhánh N (Theo Văn bản ủy quyền số 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023).
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Doãn L - Trưởng phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng S3 chi nhánh N (Theo Văn bản ủy quyền số 06/2024/GUQ-CNNĐ ngày 02/01/2024) (có mặt)
Bị đơn: Ông Mai Văn S, sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Tại phiên toà: Ông L, ông S có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07-9-2023, quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (S3), người đại diệntrình bày:
Ngày 14-01-2022, S3 ký hợp đồng tín dụng số [...] với bên vay là ông Mai Văn S. Tổng mức tín dụng được cấp cho ông S là 1.500.000.000 đồng. Ngày 26-4-2023, S3 đã giải ngân số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông Mai Văn S theo Giấy nhận nợ số LD2311600142, số tiền giải ngân: 1.500.000.000 đồng. Lãi suất: 12,0%/năm áp dụng cho 3 tháng đầu, sau đó được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần theo quy định của ngân hàng. Mục đích vay: Thanh toán tiền mua hàng; thời hạn cho vay: 6 tháng, thời hạn trả nợ gốc: Ngày 26-10-2023, kỳ trả lãi vào ngày 20 hàng tháng. Phương thức trả nợ: Lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Mai Văn S đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày14-01-2022 để thế chấp cho S3 tài sản sau: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa số 1328, tờ bản đồ số 5 xã H, diện tích 186m² đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri CO811596 ngày 07-06-2019 mang tên ông Mai Văn S. Thời gian đầu ông Mai Văn S vẫn thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình tương đối đều đặn. Đến ngày 31-8-2023, ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên S3 đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Mặc dù S3 đã tạo điều kiện về mặt thời gian để ông S có điều kiện trả nợ và cũng đã thường xuyên đôn đốc yêu cầu ông S có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn. Tuy nhiên, ông S vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn là vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Về việc ông S ý kiến việc định giá tài sản thế chấp: Tại thời điểm cho vay, giá trị tài sản thế chấp đều đã do S3 và ông Mai Văn S thống nhất cụ thể và giá trị này được dùng làm cơ sở để xác định mức cấp tín dụng. Kết quả định giá này đều thể hiện rõ tại biên bản định giá tài sản ngày 14/01/2022 và được S3 cùng ông S ký xác nhận. Do đó tại các thời điểm cấp tín dụng, ông S đều đã được biết về giá trị tài sản thế chấp. Về việc ông S ý kiến S3 không bán bảo hiểm theo quy định của mọi Ngân hàng khác: Đối với khoản vay của ông S, tài sản bảo đảm là bất động sản, theo quy định của S3 thì không phải mua bảo hiểm. Về nội dung ông S ý kiến số tiền cho ông S vay chưa được sự đồng ý của ông S mà chuyển cho ai: Toàn bộ các khoản giải ngân của ông S đều được S3 thực hiện đầy đủ theo quy định của Ngân hàng. Theo
đó, tại mỗi lần giải ngân, S3 đều giải ngân vào tài khoản thụ hưởng do ông S cung cấp và ký xác nhận trên các giấy nhận nợ tương ứng. Do đó việc ông S cho rằng S3 giải ngân khi chưa có sự đồng ý của ông là không đúng sự thật. Ngoài ra, ông S ý kiến cho rằng ông không kinh doanh buôn bán gì là không đúng sự thật. S3 cấp tín dụng cho ông S vay vốn với mục đích bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng và cho thuê cốt pha, trên cơ sở hồ sơ do ông S đề nghị và cung cấp một số hồ sơ liên quan đến hoạt động kinh doanh, cụ thể: Đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 07J002694 do Phòng Tài chính kế hoạch huyện H cấp ngày 28/12/2021, ngành nghề kinh doanh là: Vật liệu xây dựng, cho thuê cốt pha; Hợp đồng hợp tác kinh doanh số: 01/2021/HĐHTKD giữa ông S và ông Mai Thành T, những tài liệu này S3 đã cung cấp cho Tòa án làm căn cứ.
Tính đến ngày 07-12-2023, ông Mai Văn S còn nợ S3 cả gốc và lãi là 1.584.413.140đồng; trong đó, nợ gốc: 1.500.000.000đồng; lãi trong hạn: 50.215.715 đồng, lãi quá hạn: 34.197.425 đồng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, S3 đề nghị Toà giải quyết: Buộc ông Mai Văn S phải trả ngay cho S3 tổng cộng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 07-12-2023 là 1.584.413.140đồng; trong đó, nợ gốc: 1.500.000.000đồng; lãi trong hạn: 50.215.715 đồng, lãi quá hạn: 34.197.425 đồng. Ngoài ra, ông Mai Văn S còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ sau ngày 07-12-2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ ông S đã ký. Trường hợp ông S không trả được nợ, cho phát mại ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Nếu phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, yêu cầu ông S tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Mai Văn S nộp đơn đề nghị trình bày: Ông S công nhận ông là người làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng S3 nhưng khi làm thủ tục thì S3 không bán bảo hiểm cho ông S như mọi ngân hàng khác. Ngân hàng không chuyển tiền cho ông S với số tiền Ngân hàng cho vay, số tiền đó Ngân hàng chuyển cho ai mà chưa được sự đồng ý của ông S và ông S không kinh doanh buôn bán gì. Ngân hàng định giá tài sản đất của ông S bao nhiêu mà cho vay 1.500.000.000 đồng. Ông S đề nghị cơ quan pháp luật xem xét giải quyết theo quy định.
Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định:
Căn cứ các Điều 299, 317, 320, 322, 323, 385, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (S3)
1. Buộc ông Mai Văn S có nghĩa vụ trả nợ cho S3 số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 07-12-2023 là 1.584.413.140đồng (một tỷ năm trăm tám mươi tư triệu, bốn trăm mười ba nghìn, một trăm bốn mươi đồng); trong đó, nợ gốc: 1.500.000.000đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng); lãi trong hạn: 50.215.715 đồng (năm mươi triệu hai trăm mười lăm nghìn, bảy trăm mười lăm đồng), lãi quá hạn: 34.197.425 đồng (ba mươi tư triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, bốn trăm hai mươi lăm đồng).
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì kể từ ngày tiếp theo là ngày 08-12-2023 cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Trường hợp ông Mai Văn S không trả hoặc trả không đủ số nợ gốc và lãi cho S3 thì S3 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 1328, tờ bản đồ số 5 xã H đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri CO811596 ngày 07-06-2019 mang tên ông Mai Văn S theo hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày14-01-2022 giữa S3 và ông S. Nếu số tiền phát mại tài sản vượt quá tổng số tiền nợ phải trả thì ông S được nhận lại phần chênh lệch thừa. Nếu số tiền phát mại tài sản không đủ tổng số tiền nợ phải trả thì ông S phải tiếp tục thi hành phần chênh lệch còn thiếu đối với S3 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ và các chi phí khác theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự.
3.Về án phí: Ông Mai Văn S phải nộp 59.532.000 đồng (năm mươi chín triệu, năm trăm ba mươi hai nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. H1 lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.800.000 đồng (hai mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0002765 ngày 04-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Mai Văn S kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Mai Văn S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không nộp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới. Giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều đảm bảo.
- Về phần nội dung vụ án bản án sơ thẩm đã giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Mai Văn S phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Mai Văn S kháng cáo trong hạn luật định nên Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Xét hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14-01-2022, và hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 14-01-2022, được ký kết giữa S3 Chi nhánh N và ông Mai Văn S thì thấy: Tại thời điểm ký các hợp đồng, Ngân hàng là pháp nhân có đăng ký kinh doanh; ông S có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, là hộ gia đình có đăng ký kinh doanh. Thời điểm đề nghị vay vốn, ông S đã nộp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và các giấy tờ, tài liệu khác như hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan đến ngành nghề kinh doanh của ông S cho Ngân hàng để được vay vốn theo mức đề nghị. Nay ông S thừa nhận ông có làm thủ tục vay vốn tại S3 và ký kết các văn bản tín dụng như Ngân hàng đã nộp cho Tòa án là đúng. Việc các bên ký hợp đồng và các văn bản tín dụng khác thể hiện ý chí tự nguyện của các bên trên cơ sở nhu cầu, kế hoạch phát triển kinh doanh, tăng thu nhập của doanh nghiệp và gia đình. Về nội dung các hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; hình thức các hợp đồng đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, ông S đã được Tòa án giao cho nhận bản sao hợp đồng hạn mức tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản do Ngân hàng nộp kèm theo đơn khởi kiện nhưng ông S không có
ý kiến gì về hình thức và nội dung của hai hợp đồng trên. Do đó, hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14-01-2022, và hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 14-01-2022 được ký kết giữa Ngân hàng và ông S và các văn bản tín dụng khác kèm theo đều hợp pháp, các bên đã tham gia ký kết đều phải có nghĩa vụ tôn trọng thực hiện.
[3] Xét yêu cầu của Ngân hàng đối với ông Mai Văn S:
[3.1] Theo hợp đồng tín dụng số [...] ngày 14-01-2022, giấy đề nghị vay vốn, giấy nhận nợ ngày 26-4-2023 giữa S3 và ông S và các tài liệu chứng cứ do S3 xuất trình thì thấy: Ngày 26-4-2023, S1 đã ký giải ngân cho ông S vay số tiền 1.500.000.000đồng; lãi suất cho vay 12,0%/năm áp dụng cho 3 tháng đầu, sau đó được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần theo quy định của ngân hàng. Mục đích vay: Thanh toán tiền mua hàng; thời hạn cho vay: 6 tháng, thời hạn trả nợ gốc: Ngày 26-10-2023, kỳ trả lãi vào ngày 20 hàng tháng. Phương thức trả nợ: Lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.
[3.2] Tại giấy nhận nợ ngày 26-4-2023 thể hiện: Bên được cấp tín dụng là ông Mai Văn S, hạn mức tín dụng được cấp 1.500.000.000 đồng, số tiền giải ngân là 1.500.000.000 đồng; hình thức giải ngân là chuyển khoản số tiền trên vào số tài khoản của chủ tài khoản 0029.1000.1528.1007 tên Bùi Thị Ngọc H2 do ông S cung cấp tài khoản thụ hưởng và giấy nhận nợ trên ông S có ký tương ứng vị trí cung cấp tài khoản thụ hưởng, bên dưới phần “bên được cấp tín dụng” cuối văn bản ông S đã tự ghi “Tôi đã đọc hiểu và đồng ý” sau đó ký họ tên Mai Văn S. Theo tài liệu S3 cung cấp thì quá trình đề nghị vay vốn ông S đã cung cấp cho Ngân hàng 01 hợp đồng mua bán hàng hóa giữa ông S là đại diện bên mua, bà Bùi Thị Ngọc H2 là đại diện bên bán; ông S phải thanh toán tiền hàng tổng cộng là 1.970.000.000 đồng, nhưng đã thanh toán được 470.000.000 đồng, còn lại phải thanh toán 1.500.000.000đ; bên mua phải thanh toán cho bên bán theo hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bên bán theo số tài khoản: 0029.1000.1528.1007, Ngân hàng O chi nhánh H3. Điều này phù hợp với số tài khoản thụ hưởng mà ông S cung cấp tại giấy nhận nợ ngày 26/4/2023. Ngoài ra, S3 còn xuất trình phiếu chuyển khoản ngày 26/4/2023 thể hiện đã giải ngân tới tài khoản Mai Văn S số tiền 1.500.000.000 đồng. Sau khi Ngân hàng giải ngân vào tài khoản tiền vay của ông Mai Văn S, sau đó mới chuyển sang tài khoản thanh toán của chủ tài khoản Bùi Thị Ngọc H2.
[3.3] Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở khẳng định S3 đã giải ngân số tiền 1.500.000.000 đồng vào tài khoản của ông S ngày 26/4/2023 là sự việc có thật, thể hiện bởi các văn bản tín dụng như giấy nhận nợ, phiếu giải ngân do S3 xuất trình. Do đó, việc ông S có ý kiến cho rằng S3 cho ông S vay chưa được sự đồng ý của ông S mà chuyển cho ai là không có cơ sở chấp nhận.
[3.4] Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 31-8-2023, ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên S3 đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Từ đó đến nay, Hợp đồng đã hết hạn, ông S vẫn không thực hiện trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng khi đến hạn là vi phạm các điều khoản mà hai bên đã ký kết. Do đó, yêu cầu của S3 về việc buộc ông S phải trả cho S3 số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 07-12-2023 là 1.584.413.140đồng; trong đó, nợ gốc: 1.500.000.000đồng; lãi trong hạn: 50.215.715 đồng, lãi quá hạn: 34.197.425 đồng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
[4] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay nợ tại S3, ông S đã tự nguyện thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 1328, tờ bản đồ số 5 xã H đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri CO811596 ngày 07-06-2019 mang tên ông Mai Văn S theo hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC ngày 14-01-2022. Tại buổi xem xét thẩm định thực địa ngày 25-10-2023, bị đơn ông S vắng mặt, đại diện Ngân hàng xác nhận hiện trạng tài sản thế chấp từ khi thế chấp đến nay không có biến động thay đổi gì so với thời điểm thế chấp, Ngân hàng nhất trí với hiện trạng của tài sản thế chấp. Vì vậy, trường hợp ông S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với S3 thì S3 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.
[5] Về các vấn đề khác:
Về việc ông S có ý kiến Ngân hàng định giá tài sản thế chấp của ông bao nhiêu mà cho vay số tiền 1.500.000.000 đồng: Căn cứ Biên bản định giá tài sản ngày 14/01/2022 do S3 cung cấp thì tài sản thế chấp của ông Mai Văn S được định giá là 2.200.000.000đ và việc xác định giá trị này chỉ để làm cơ sở xác định mức cấp tín dụng cho bên được cấp tín dụng. Biên bản định giá được ông S ký họ tên, do đó, tại thời điểm cấp tín dụng ngày 26/4/2023, ông S đã được biết về giá trị tài sản thế chấp do S3 định giá trước đó nên ông S ý kiến không biết về việc S3 đã định giá tài sản thế chấp của ông giá trị bao nhiêu là không có căn cứ.
Về việc ông S ý kiến S3 không bán bảo hiểm theo quy định của mọi Ngân hàng khác: Quy định về việc bán bảo hiểm cho khách hàng vay vốn thì theo S3 trình bày đối với khoản vay của ông S có tài sản bảo đảm là bất động sản nên không phải mua bảo hiểm. Do đó, về nội dung Ngân hàng không bán bảo hiểm cho ông S, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, ông S có ý kiến cho rằng ông không làm kinh doanh buôn bán. Tuy nhiên, theo các tài liệu S3 cung cấp thể hiện: Tại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 07J002694 do Phòng Tài chính kế hoạch huyện H cấp ngày 28/12/2021, tên hộ kinh doanh Mai Văn S, ngành nghề kinh doanh là: Vật liệu xây dựng, cho thuê cốt
pha. Ngoài ra, các tài liệu do ông S cung cấp cho S3 trong quá trình đề nghị vay vốn gồm: Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 01/2021/HĐHTKD giữa ông S và ông Mai Thành T, Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa ông S và bà Bùi Thị Ngọc H2 và một số hóa đơn chứng từ mua hàng đều thể hiện ông S có làm kinh doanh, buôn bán về vật liệu xây dựng là sự việc có thật. Do đó, việc S3 cấp tín dụng cho ông Mai Văn S vay vốn với mục đích kinh doanh vật liệu xây dựng là có cơ sở theo quy định của tổ chức tín dụng.
[6] Về chi phí tố tụng: Xác nhận S3 đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định thực địa và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật. H1 lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho S3.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ.
Bản án sơ thẩm số 15/2023/KDTM-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã xem xét đầy đủ, toàn bộ nội dung vụ án và ra phán quyết đúng pháp luật, khách quan đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[9] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Mai Văn S không được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông S phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Mai Văn S. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2023/KDTM-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Ông Mai Văn S phải nộp 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) được đối trừ tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm ông S đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số
0002986 ngày 28/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông S còn phải nộp 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Bùi văn Biền |
Bản án số 09/2024/KDTM-PT ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 09/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
