Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 08-5-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ – TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Thanh Xuân

Ông Đặng Lễ Nghi

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2023/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Chan T, sinh năm 1987 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Thạch Q, sinh năm 1989 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: Ấp Ô, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/01/2023 và lời khai của nguyên đơn bà Thạch Thị Chan T trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Bà T và ông Thạch Q chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Điền, huyện Cầu Kè. Quá trình chung sống có 01 con chung tên Thạch Thị Yến V, sinh ngày 30/9/2011 hiện nay bà T nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông Q thường xuyên uống rượu, không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chung sống với nhau không có hạnh phúc nên không còn sống chung với nhau từ năm 2020 đến nay.

Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông Thạch Q. Về con chung: Bà T yêu cầu nuôi con chung tên Thạch Thị Yến V và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà T khai bà T và ông Q không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Thạch Q mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để thông báo và triệu tập ông Q tham gia tố tụng nhưng ông Q không có mặt cũng không có lời khai cung cấp cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Chan T, cho bà Thạch Thị Chan T ly hôn với ông Thạch Q. Về con chung: Giao con chung tên Thạch Thị Yến V, sinh ngày 30/9/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: Không có nên không xem xét. Về án phí: Buộc bà Thạch Thị Chan T chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và bị đơn cư trú tại Ấp Ô, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Thạch Thị Chan T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Thạch Q, sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Q, nhưng ông Q vắng mặt nên cha ruột ông Q là ông Thạch Viên nhận thay và đã giao lại cho ông Q các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nên ông Q đã biết Tòa án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà T và Tòa án triệu tập ông Q đến Tòa tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa nhưng ông Q vắng mặt 02 lần không có lý do. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Thạch Thị Chan T và ông Thạch Q.

[3] Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Chan T và ông Thạch Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Điền, huyện Cầu Kè vào năm 2011. Căn cứ Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, việc xác lập quan hệ vợ chồng của bà Thạch Thị Chan T và ông Thạch Q được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của bà Thạch Thị Chan T: Bà T và ông Q chung sống với nhau vào năm 2011, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, chung sống với nhau không có hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Q. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Q 02 lần. Nhằm để hòa giải, tạo điều kiện cho bà T và ông Q hàn gắn nhưng ông Q đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, ông Q đã không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Đồng thời, theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cũng xác định không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Q. Căn cứ theo Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống bà T và ông Q do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên không còn sống chung từ năm 2020 cho đến nay và hiện nay cũng không có biện pháp hàn tình cảm vợ chồng. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông Q đã xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà bà T, cho bà T ly hôn với ông Q là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

[5] Về con chung: Bà T yêu cầu được nuôi con chung tên Thạch Thị Yến V, sinh ngày 30/9/2011 và nguyện vọng của Thạch Thị Yến V cũng muốn sống với bà T. Xét thấy, từ trước đến nay cháu Thạch Thị Yến V do bà T trực tiếp nuôi dưỡng và bà T vẫn đảm bảo việc nuôi con tốt nên giao Thạch Thị Yến V cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

[6] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nhưng bà T không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con tên Thạch Thị Yến V nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung: Bà T không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về nợ chung: Bà T khai không có nợ chung, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bà Thạch Thị Chan T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[11] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 177, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Chan T.

Về hôn nhân: Cho bà Thạch Thị Chan T ly hôn với ông Thạch Q.

Về con chung: Giao con chung tên Thạch Thị Yến V, sinh ngày 30/9/2011 cho bà Thạch Thị Chan T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thạch Thị Chan T không yêu cầu ông Thạch Q cấp dưỡng nuôi con Thạch Thị Yến V, sinh ngày 30/9/2011 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: Bà Thạch Thị Chan T không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Thạch Thị Chan T khai không có nợ chung, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bà Thạch Thị Chan T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0017680, ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Kè. Bà Thạch Thị Chan T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Thạch Thị Chan T và bị đơn ông Thạch Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Cầu Kè;
  • - Chi cục THADS huyện Cầu Kè;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Châu Điền, huyện Cầu Kè;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Yến Nhi

HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

Đặng Lễ Nghi

Ngô Thanh Xuân

Phạm Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ - ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ – TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ – TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HN SỐ 09 NGÀY 08-5-2024 THẠCH THỊ CHAN THA - THẠCH QUƠNE
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger