|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 09/2024/HS-PT Ngày: 08/01/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Đặng Thị Thơm; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Phan Nam; |
| Ông Điều Văn Hằng. |
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Biểu, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; tại điểm cầu thành phần: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 891/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 do có kháng cáo của các bị cáo Hoàng Đình D, Nguyễn Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Hoàng Đình D; sinh ngày 16/10/1995; nơi đăng ký HKTT: Thôn Á, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình Đ và bà Dương Thị H; có vợ là Vi Ngọc T (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- Nguyễn Văn L; sinh ngày 06/3/1986 tại Thái Nguyên; nơi đăng ký HKTT: Xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Trần Thị V; có vợ là Tạ Thị L2; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022, đến ngày 21/12/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Bảo lĩnh.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 2022, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra về ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ C3, Trung đoàn Cảnh sát cơ động Thủ đô tiến hành kiểm tra Cơ sở sinh thái (sau đây viết tắt là CSST) Làng V thuộc xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và khách sạn L10 thuộc tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên do Phạm Quốc V1 (tên gọi khác là S) làm chủ. Tại 02 địa điểm trên có các phòng đang cho khách thuê để sử dụng trái phép chất ma túy (được các đối tượng quy ước gọi là “Căn”), Cơ quan điều tra đã lập biên bản sự việc, biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với những người có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Hoàng Đình D: Tại căn 9 Cơ sở sinh thái Làng V, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/7/2022, sau khi ăn đám cưới tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Quản Minh H1 rủ Vũ Hoàng A, Hoàng Đình D và 07 người nữa gồm: Nguyễn Hoàng A1, Trịnh Văn B, Dương Tuấn K, Phạm Viết K1, Nguyễn Xuân N, Phạm Ngọc Đ1, Hoàng Hoàng L3 cùng đi xuống thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để sử dụng ma túy. Qua bạn bè xã hội, D biết tại C4 có cho thuê phòng để sử dụng ma túy và có bán ma túy nhưng D nói không có tiền thì H1 bảo trong tài khoản có 5.000.000đ sẽ chuyển hết số tiền này cho D. Sau đó, D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI TUCSON BKS 12A - 173.25 của mình chở H1, Vũ Hoàng A, Nguyễn Hoàng A1 và Trịnh Văn B; Dương Tuấn K, Phạm Viết K1, Hoàng Hoàng L3, Nguyễn Xuân N và Phạm Ngọc Đ1 đi 01 xe ô tô khác do Dương T1 K1 lái. Trên đường đi, D bảo H1 chuyển tiền cho D nhưng H1 chuyển khoản hai lần đều không được, H1 sử dụng ứng dụng Viettel Pay để chuyển nhưng D vẫn không nhận được tiền nên H1 nói sẽ đưa số tiền 5.000.000đ cho D sau. Cũng trên xe ô tô, Vũ Hoàng A đưa cho D 9.000.000đ để thuê phòng, mua ma túy sử dụng. Duẩn gọi điện thoại cho một người phụ nữ tự giới thiệu tên là Q (không rõ họ, tên đệm và địa chỉ) nhờ gọi nhân viên nữ đến để phục vụ nhóm của D. Khoảng 22 giờ cùng ngày, cả nhóm đến CSST Làng Việt. Duẩn gặp lễ tân và đặt cọc 3.000.000đ tiền thuê phòng Căn 9 (là tiền trong số 9.000.000đ H đưa cho D). Sau đó, Vũ Hoàng A và Quản Minh H1 bảo D mua ma tuý để sử dụng. Duẩn gặp 01 người nữ giới (không biết họ tên, địa chỉ) ở CSST hỏi mua 15 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine thì người này đồng ý. Liền sau đó có 01 nhân viên nam khoảng 20 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) ra và báo giá 15 viên thuốc lắc có giá là 5.250.000đ, 01 gói Ketamine giá 7.000.000đ. D đồng ý và đi lên phòng Căn 9. Một lúc sau nam nhân viên nêu trên mang 15 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine đến đưa cho D tại cửa phòng. D một mình ra cửa phòng nhận ma túy và trả trước số tiền 6.000.000đ, số tiền còn lại hẹn sẽ thanh toán hết khi trả phòng. Khoảng 15 phút sau thì 08 nhân viên nữ đến phòng Căn 9, gồm: Trần Thị Ngọc B1, Nguyễn Hoàng L4, Lý Diệu L5, Nguyễn Thị H2, Bá Thị L6, Lục Thị H3, Đoàn Thị K2 và Nguyễn Thị L7. D lấy ra 01 viên thuốc lắc sử dụng ½ viên, ½ viên còn lại đưa cho Vũ Hoàng A sử dụng. D đưa cho Quản Minh H1 01 viên thuốc lắc, H1 cắn đôi viên thuốc sử dụng một phần, phần còn lại đưa cho K2 sử dụng. Số thuốc lắc được D chia ra các phần và mọi người trong phòng sử dụng bằng cách uống nuốt gồm: Nguyễn Hoàng A1 và N mỗi người sử dụng 01 viên; Lạng, K1, B, Đ1, L4, B1, H3, H2, L5, L7 mỗi người sử dụng ½ viên (Bá Thị L6 không sử dụng).
Khoảng 01 tiếng sau khi sử dụng thuốc lắc, D lại tiếp tục sử dụng ½ viên thuốc lắc bằng cách uống nuốt. Sau đó D lấy túi Ketamine đổ ra đĩa, đảo, trộn và chia thành đường kẻ, sử dụng bằng cách hít 02 đường và bê đĩa sứ chứa ma túy trên bàn cho mọi người trong phòng sử dụng. Lần lượt: Vũ Hoàng A, Nguyễn Hoàng A1, H1, L3, K1, N, B, Đ1, L6 mỗi người đều sử dụng 1-2 đường Ketamine (L5 tự sử dụng Ketamine). Riêng Dương Tuấn K không sử dụng loại ma túy nào. Sử dụng ma túy xong tất cả lên giường nằm nghe nhạc.
Vào hồi 01 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, Cơ quan Công an kiểm tra tại Căn 9 phát hiện, thu giữ trên đĩa sứ có 0,19 gam Ketamine, thu giữ trên nền cạnh chân bàn uống nước nhà 05 viên thuốc lắc MDMA có khối lượng 1,61 gam, 01 túi nilon chứa 1,09 gam Ketamine; vật chứng khác và một số đồ vật tài sản liên quan.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Tại Căn 12 CSST Làng Việt, khoảng 20 giờ 30 ngày 23/7/2022, Đàm Huy H4 và Vũ Văn D1 rủ nhau đến CSST Làng Việt để sử dụng ma túy, sau đó H4 gọi điện rủ thêm Nguyễn Đức H5. H4, H5, D1 thỏa thuận sử dụng ma túy xong thì số tiền mua ma túy, tiền thuê phòng và tiền nhân viên sẽ chia đều cho từng người. H4 bảo D1 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L để nhờ đặt mua ma túy. D1 gọi điện thoại cho L nói tìm mua giúp cho D1 04 “chỉ” ma túy K3 và 05 viên ma túy thuốc lắc MDMA. L đồng ý và gọi điện thoại cho Lâm Hồng Đ2, sinh năm 1995, trú tại tổ D, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên hỏi mua số ma túy trên thì Đ2 đồng ý. Lưỡng gửi số điện thoại của D1 cho Đ2 để liên lạc và bảo Đ2 đem ma túy đến CSST Làng V giao cho D1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H4 và D1 đến CSST Làng Việt trước. H4 gọi điện cho lễ tân mở cổng và thuê phòng Căn 12, sau đó thì H5 đến. H4 gọi 03 nhân viên nữ lên phòng để cùng sử dụng ma túy với tiền công trả theo ca 6 tiếng là 1.500.000đ/01 người. Khoảng 05 phút sau có một nam thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mang 04 túi Ketamine và 05 viên thuốc lắc vào phòng đặt ở trên giường, thông báo giá là 9.000.000đ. H4 bảo D1 trả tiền nhưng D1 không đủ tiền nên D1 bảo H5 trả tiền cho người nam giới bán ma túy nêu trên. H5 đã chuyển khoản số tiền 9.000.000đ cho người thanh niên đó vào lúc 21 giờ 29 phút. Sau đó 03 nhân viên nữ là Đinh Thị Huyền L8, Phạm Lê Như H6, Ngô Thị Như Ý đến. H4 lấy 05 viên thuốc lắc rồi tự sử dụng 01 viên, tiếp đó đưa cho D1 01 viên thuốc lắc và D1 đã sử dụng hết; đưa cho L8 01 viên thuốc lắc thì L8 đưa cho H5 để H5 cắn ½ viên sử dụng, rồi H5 đưa lại ½ viên cho L8, L8 sử dụng hết; H4 đưa cho H6 01 viên thì H6 cắn ½ viên rồi sử dụng ¼ viên, còn ¼ viên đưa cho Ý sử dụng, sau đó H6 cất giấu ½ viên còn lại vào trong túi xách của mình.
Tiếp đó, Đàm Huy H4 bảo Đinh Thị Huyền L8 hơ đĩa để H4 “xào” Ketamine. L8 lấy bật lửa ga và giấy có sẵn trong phòng, đốt giấy để hơ đĩa sứ cho nóng đều rồi đưa lại cho H4. H4 đổ 01 túi Ketamine ra đĩa, dùng thẻ nhựa màu trắng đã có sẵn trong phòng xào mịn, chia thành các đường nhỏ, rồi lấy tờ tiền 10.000đ cuốn thành ống sử dụng. H4 để 03 túi ma túy Ketamine ở trên giá gỗ treo trong phòng rồi tiếp tục dùng thẻ nhựa kẻ Ketamine thành nhiều đường thẳng và mời H5, H6, D1, L8, Ý sử dụng. Sau khi mọi người sử dụng xong, L8 thấy trên đĩa còn Ketamine nên đã lấy thẻ nhựa kẻ chia Ketamine thành 4 đường thẳng, L8 đã tự sử dụng 2 đường.
Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe ôtô TOYOTA VIOS BKS 20A-33519 đến Căn 12 CSST L (D1 và H4 gọi Lưỡng đến cùng sử dụng ma túy). Lưỡng thấy 03 túi ma túy Ketamin trên giá để đồ nên đã lấy 01 túi đổ vào đĩa sứ và dùng thẻ nhựa chia Ketamine để sử dụng. Sau đó Hoàng Thúy N1 cũng là nhân viên phục vụ đến, L hỏi H4 còn ma túy thuốc lắc không thì H4 bảo tìm ở trên bàn. Lưỡng tìm thấy ½ viên ở trên bàn nên đã tự sử dụng một phần, một phần đưa cho N1 sử dụng. Sau đó L tiếp tục kẻ, chia Ketamine thành đường nhỏ, đưa cho N1 sử dụng và đưa cho những người khác nhưng không rõ còn ai sử dụng nữa hay không. Sử dụng ma túy xong thì tất cả những người trong phòng nằm nghỉ.
Vào hồi 01 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, khi Cơ quan Công an đến kiểm tra Căn 12 đã phát hiện, thu giữ 02 túi Ketamine có khối lượng 1,93 gam trên giá để đồ treo trên tường và 0,9 gam Ketamine trên đĩa sứ để trên ghế sofa. Thu giữ trong túi xách của H6 ½ viên ma túy loại MDMA có khối lượng 0,22g cùng một số vật chứng khác, đồ vật, tài sản có liên quan.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định:
- - Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Đình D 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Hoàng Đình D phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.
- - Giao chiếc xe ô tô HYUNDAI TUCSON, BKS 12A-173.25, kèm theo Giấy biên nhận thế chấp ngày 13/7/2022, Giấy chứng nhận Kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Ngân hàng V2 xử lý theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ cho bị cáo Hoàng Đình D với Ngân hàng V2 theo Hợp đồng tín dụng số 7445430.21, ngày 15/12/2021, số tiền còn lại tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
- - Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 53, ngày 29/3/2023, giữa Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Số tiền tạm giữ của các bị cáo theo uỷ nhiệm chi chuyển khoản số 26/040 ngày 28/3/2023 giữa Công an tỉnh T và Kho bạc Nhà nước T10.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022 đến ngày 21/12/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Quốc V1, Nguyễn Văn Q1, Hoàng Thị Lệ C, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H7, Đỗ Thúy N2, Trần Thị Như Q2, Đỗ Minh T3, Nguyễn Ngọc K4, Lưu Quang H8, Quản Minh H1, Vũ Hoàng A, Lê Hồng Â, Vũ Thạch H9, Lê Duy T4, Hoàng Duy C1, Vũ Đình Ư, Nguyễn Lê Kỳ D2, Đàm Huy H4, Nguyễn Đức H5, Vũ Văn D1, Khúc Văn L9, Phạm Thị Như Q3, Lò Thị Đ3, Trần Huy T5, Lương Đình K5, Đỗ Tiến T6, Trương Duy A2, Nguyễn Bá Sơn T7, Lê Anh T8, Viên Minh H10, Dương Ngọc S1, Hoàng Thị D3, Trần Ngọc M, Phạm Văn Đ4, Trần Xuân T9, Đinh Thị Huyền L8, Lê Thị G, Phạm Hữu P, Bùi Tiến C2; xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 25/7/2023 bị cáo Hoàng Đình D kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị trả lại chiếc ô tô cho gia đình bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Đình D tự nguyện xin rút toàn bộ kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Văn L vắng mặt có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị cáo bị ốm nhưng không có bệnh án kèm theo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Đình D tự nguyện xin rút toàn bộ kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình D.
Đối với việc vắng mặt của bị cáo Nguyễn Văn L, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo thủ tục chung. Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn L: Sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo L, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự bác kháng cáo của bị cáo L và giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng các cấp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định thẩm quyền xét xử vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; xác định đúng, đầy đủ tư cách người tham gia tố tụng theo quy định của luật tố tụng.
[1.2] Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định, được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[1.3] Bị cáo Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị cáo bị ốm nhưng không có bệnh án kèm theo. Do đó, không đủ căn cứ xác định bị cáo vắng mặt thuộc trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Ngoài ra, việc xét xử không làm xấu đi tình trạng của bị cáo, vì vậy, căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với bị cáo Hoàng Đình D:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Đình D tự nguyện xin rút toàn bộ kháng cáo, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình D.
[2.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn L:
Đối với tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/7/2022, Nguyễn Văn L đã mua hộ Vũ Văn D1 04 túi Ketamine và 05 viên thuốc lắc đến căn 12 Cơ sở sinh thái Làng V. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, L cùng sử dụng ma túy với Đàm Huy H4, Vũ Văn D1, Đinh Thị Huyền L8, Ngô Thị Như Ý, Phạm Lê Như H6, Hoàng Thúy N1. Khi sử dụng ma túy Phạm Lê Như H6 mới 14 tuổi 5 tháng 19 ngày. Lưỡng đã lấy ma túy Ketamin trên giá để đồ vào đĩa sứ và dùng thẻ nhựa chia Ketamine để sử dụng. Lưỡng sử dụng ½ viên, một phần đưa cho N1 sử dụng. Sau đó L tiếp tục kẻ, chia Ketamine thành đường nhỏ, đưa cho N1 sử dụng và đưa cho những người khác.
Số ma túy còn lại do Đàm Huy H4, Vũ Văn D1, Nguyễn Đức H5 góp tiền nhờ Nguyễn Văn L mua gồm 02 túi Ketamine có khối lượng 1,93 gam và 0,9 gam, nhưng chưa sử dụng thì bị bắt quả tang.
Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn L không kháng cáo về tội danh mà kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, vai trò trách nhiệm của bị cáo trong vụ án là có căn cứ. Quá trình cân nhắc khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá nhân thân của bị cáo, xem xét áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tài liệu mới để xem xét nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L về phần hình phạt.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình D và không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn L; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Hoàng Đình D rút kháng cáo tại phiên tòa nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a, điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 348, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình D. Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo Hoàng Đình D có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ việc xét xử phúc thẩm, cụ thể:
- - Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Đình D 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Hoàng Đình D phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.
- - Giao chiếc xe ô tô HYUNDAI TUCSON, BKS 12A-173.25, kèm theo Giấy biên nhận thế chấp ngày 13/7/2022, Giấy chứng nhận Kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Ngân hàng V2 xử lý theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ cho bị cáo Hoàng Đình D với Ngân hàng V2 theo Hợp đồng tín dụng số 7445430.21, ngày 15/12/2021, số tiền còn lại tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
- - Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 53, ngày 29/3/2023, giữa Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Số tiền tạm giữ của các bị cáo theo uỷ nhiệm chi chuyển khoản số 26/040 ngày 28/3/2023 giữa Công an tỉnh T và Kho bạc Nhà nước T10.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2023/HS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L, cụ thể:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022 đến ngày 21/12/2022.
-
Về án phí:
- Bị cáo Hoàng Đình D không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thơm |
10
Bản án số 09/2024/HS-PT ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 09/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đình D và Nguyễn Văn L phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma thúy
