Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TX A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06- 5 - 2024

“Về việc ly hôn, tranh chấp về

nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TX A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và bà Nguyễn Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân Tx A, tỉnh Gia Lai.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tx A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn E, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 12 năm 2023, các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh H1 tự nguyện kết hôn vào ngày 28 tháng 02 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trước khi kết hôn chị H và anh H1 đã chung sống với nhau như vợ chồng và đã có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhã T, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018. Trong quá trình chung sống do tính tình không hợp, kinh tế gia đình gặp khó khăn nên chị H và anh H1 thường xuyên mâu thuẫn, kình cãi và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì vậy, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H1.

Về nuôi con chung: Chị H và anh H1 có một người con chung là cháu Nguyễn Nhã T, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018, hiện nay đang do chị H nuôi dưỡng. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Nhã T và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H và anh H1 không có tài sản chung và không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai của bị đơn Nguyễn Thanh H1 tại bản khai ngày 27 tháng 2 năm 2024 thể hiện: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017, sau khi sinh cháu Nguyễn Nhã T anh H1 và chị H mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai vào ngày 28 tháng 2 năm 2018. Sau khi kết hôn, anh H1 và chị H chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay. Anh H1 cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nên anh chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

Về nuôi con chung: Anh H1 thừa nhận, anh và chị H có một người con chung là cháu Nguyễn Nhã T, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018. Anh đồng ý để chị H được trực tiếp nuôi con theo yêu cầu của chị H.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh H1 khai, anh và chị H không có tài sản chung và không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn và có tranh chấp về nuôi con chung với anh Nguyễn Thanh H1 có địa chỉ: Thôn A, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Tx A là Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết tranh chấp nói trên.

- Do bị đơn anh Nguyễn Thanh H1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai của các đương sự, giấy chứng nhận kết hôn và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 kết hôn vào ngày 28 tháng 2 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Việc kết hôn của chị H và anh H1 là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H: Chị H cho rằng, trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp, kinh tế gia đình gặp khó khăn nên chị H và anh H1 thường xuyên mâu thuẫn, kình cãi và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Lời khai của anh H1 phù hợp với lời khai của chị H và thể hiện: Sau khi kết hôn, anh H1 và chị H chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay, vì vậy, anh H1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh H1.

[4] Về việc nuôi con chung: Chị H và anh H1 có một người con chung là cháu Nguyễn Nhã T, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018. Anh H1 đồng ý để chị H được trực tiếp nuôi con theo yêu cầu của chị H. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cho chị H trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Nhã T.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét việc cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H và anh H1 đều khai vợ chồng không có tài sản chung và không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Nguyễn Thanh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H1.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Nhã T, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2018 khi cháu T chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012950 ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Tx A, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Anh Nguyễn Thanh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (06/5/2024), nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Ngọc LanBùi Tứ Hải
Nguyễn Thị Hằng

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai
  • - VKSND TX A;
  • - Chi cục THADS TX An Khê;
  • - UBND xã Thành An (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tứ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TX A - TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 09/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TX A - TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Hiệp yêu cầu ly hôn với anh Hải
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger