Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 09/2024/DSST

Ngày: 05/7/2024

(V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Lan Hương.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan, Bà Nguyễn Thị Mai Linh

- Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Lê Tuấn Huy – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) thành phố (TP) Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thành Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 05/7/2024, tại trụ sở TAND TP Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2023/TLST - DS ngày 13 tháng 4 năm 2023, về việc: Tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng tín dụng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXX- DS ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.

    Địa chỉ: Tòa nhà T, số B, đường T, Phường: T, Quận H, TP Hà Nội.

    Người được ủy quyền tham gia tố tụng: ông Hoàng Tuấn A – Giám đốc Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh H - Phòng G; ông Phạm Tiến L – Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh H; bà Nguyễn Thị Hồng N – Chuyên viên khách hàng Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh H - Phòng G.

    Ông Hoàng Tuấn A có mặt tại phiên tòa.

  2. Bị đơn: Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1984

    Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1985

    Cùng HKTT: Tổ 13, P.H, TP H, tỉnh Hòa Bình.

    Cùng cư trú tại: Số A, ngách A, Đường H, Tổ A, Phường H, TP H, tỉnh Hòa Bình.

    Ông Q và bà N1 đều vắng mặt, không có lý do.

  3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T

    Tổ trưởng Tổ Liên kết vay vốn Hội nông dân Tổ G, Phường H TP H, tỉnh Hòa Bình (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

1. Trong đơn khởi kiện và tại lời khai trong suốt quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/5/2020, ông Bùi Văn Q, với tư cách là “Bên vay” cùng bà Phạm Thị N1 với tư cách là “Người đồng trách nhiệm của bên vay” đã ký “Hợp đồng tín dụng” số HDTD79C202052 với “Bên cho vay” là Ngân hàng TMCP B chi nhánh H - phòng G (Sau đây gọi là Ngân hàng TMCP B). Theo hợp đồng nêu trên, số tiền Ngân hàng TMCP B cấp tín dụng cho ông Q và bà N1 vay là: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng). Ông Q, bà N1 đã nhận đủ số tiền này.

Trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông Q, bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Từ ngày: 25/11/2022 khoản vay đã chuyển quá hạn sang nợ xấu. Thông qua Tổ liên kết vay vốn, Ngân hàng đã thông báo, đốc thúc ông Q1, bà N1 trả nợ nhưng ông Q, bà N1 không thực hiện. Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu TAND TP Thành Phố Hòa Bình giải quyết buộc ông Q, bà N1 phải liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B theo đúng Hợp đồng tín dụng/ giấy nhận nợ đã ký kết - với tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 05/7/2024 cụ thể như sau:

  • Dư nợ gốc: 39.514.000 đồng
  • Lãi và lãi quá hạn trên dư nợ gốc: 18.371.928 đồng, trong đó bao gồm:
    • Lãi trên dư nợ gốc theo hợp đồng (09%/năm): 14.326.027 đồng
    • Lãi quá hạn trên dư nợ gốc theo hợp đồng (150% lãi vay trong hạn): 4.045.900 đồng
  • Phạt lãi 10% theo hợp đồng: 1.080.074 đồng

Tổng cộng: 58.966.002 đồng (Bằng chữ: năm mươi tám triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm linh hai đồng).

Đồng thời Buộc ông Q, bà N1 phải tiếp tục nghĩa vụ liên đới trả nợ lãi tiếp theo từ ngày 06/7/2024 theo thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng tín dụng HDTD79C202052, ngày 28/05/2020 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Trường hợp nếu ông Q, bà N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện cưỡng chế theo quy định pháp luật về thi hành án để thu hồi nợ vay.

Yêu cầu Tòa án xử buộc ông Q, bà N1 phải chịu toàn bộ án phí DSST theo quy định pháp luật.

Ngân hàng TMCP B xuất trình hồ sơ vay vốn theo quy định của Ngân hàng: Hợp đồng tín dụng, đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ; các biểu kê dư nợ.

Tổ trưởng Tổ liên kết vay vốn, bà Nguyễn Thị T, xác nhận có ký vào “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ” ngày 25/5/2020, đứng tên ông Q, bà N1. Nay Ngân hàng khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định chung của pháp luật.

2. Quá trình thu thập chứng cứ từ bị đơn ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị N1:

2

Ông Q, bà N1 được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tòa án đã cùng đại diện chính quyền địa phương đến tại nơi cư trú của ông Q, bà N1 để thu thập lời trình bày của ông Q, bà N1. Kết quả ông Q, bà N1 có bản tự khai trình bày thừa nhận ngày 28/5/2020 đã ký Hợp đồng vay vốn HDTD79C202052 với Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh H. – Phòng G. Ông Q, bà N1 thừa nhận Hợp đồng tín dụng Tòa án đã cho sao chụp khi làm việc với ông Q, bà N1 tại nơi cư trú là đúng chữ ký của ông Q, bà N1 nhưng cho rằng khoản vay này là ông Q, bà N1 đứng tên vay hộ mẹ ông Q. Hiện Ngân hàng khởi kiện, về số tiền dư nợ gốc theo Hợp đồng hai bên đã ký kết thì ông Q, bà N1 đồng ý thanh toán khoản dư nợ gốc nhưng không có khả năng trả lãi và cũng chưa có tiền để trả ngay được khoản dư nợ gốc cho Ngân hàng mà xin được trả dần. Ông Q, bà N1 trả lời Tòa án là: không đến Tòa giải quyết, Tòa án muốn giải quyết thế nào thì tùy Tòa và ông Q cầm tất cả các văn bản tố tụng Tòa án giao cho nhét vào thùng rác trước cửa nhà ông Q.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt. Bị đơn ông Q, bà N1 vẫn vắng mặt. Vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn không đến tham gia tố tụng.

Người làm chứng có đơn xin vắng mặt và đã có lời xác nhận việc ông Q, bà N1 đứng đơn vay vốn của Ngân hàng TMCP B. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Nguyên đơn Ngân hàng rút một phần khởi kiện là: Khoản tiền phạt lãi 10% theo thỏa thuận Hợp đồng - số tiền 1.080.074 đồng.

3. Những nội dung khai thống nhất, không thống nhất:

* Nội dung đương sự khai thống nhất:

- Nguyên đơn và bị đơn đều trình bày thống nhất việc ông Q, bà N1 là “Bên vay” có ký kết Hợp đồng vay vốn HDTD79C202052, ngày 28/5/2020 với “Bên cho vay” tiền là: Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh H - Phòng G.

* Nội dung không thống nhất:

- Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ dư nợ gốc + dư nợ lãi theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi nợ theo quy định chung của pháp luật nếu bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng HDTD79C202052 ngày 28/5/2020 có hiệu lực pháp luật.

- Bị đơn xác nhận nợ gốc, không đồng ý trả lãi vì không có khả năng.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hòa Bình phát biểu ý kiến:

*/ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS). Việc xét xử vắng mặt bị đơn ông Q, bà N1 đã phù hợp với quy định Điều 227, 228 - Bộ luật TTDS.

*/ Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, phía nguyên đơn cung cấp hợp đồng tín dụng số HDTD79C202052, ngày 28/05/2020, bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật về hình thức và nội dung, có hiệu lực. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị

3

N1 phải liên đới nghĩa vụ trả dư nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận hợp đồng tín dụng HDTD79C202052 ngày 28/05/2020 cho Ngân hàng TMCP B. Việc Ngân hàng rút một phần khởi kiện đối với “phạt lãi” cần chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với phần rút này của Ngân hàng. Về án phí, cần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí DSST.

Đồng thời đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Đề nghị áp dụng điều luật: Khoản 3 Điều 26, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 147, 217, 227, 228 – Bộ luật TTDS; các điều 463, 466, 468, 470 – BLDS; Điều 91, 94, 95, 98 – Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01 ngày 11/01/2019 của HĐTP TAND Tối cao; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP B khởi kiện vụ án tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn là ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị N1 có HKTT và nơi cư trú tại phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ Khoản 3 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 36, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS) vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hòa Bình.

Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết đòi tiền dư nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên; bị đơn thừa nhận nợ gốc, không chấp nhận trả lãi và xin trả dần nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Về thời hiệu khởi kiện: vụ án đáp ứng quy định về thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật dân sự (BLDS).

Tại phiên tòa ngày 17/6/2024, phía bị đơn ông Q, bà N1 vắng mặt; căn cứ Khoản 1 Điều 227 Bộ luật TTDS, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tiến hành hoãn phiên toà để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của ông Q, bà N1. Tại phiên toà hôm nay, phía bị đơn ông Q, bà N1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Q1, bà N1 tỏ rõ thái độ không đến, vứt bỏ các văn bản Thông báo, Triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... mà Tòa án đã tống đạt trực tiếp cho ông Q, bà N1, có sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và đến hôm nay vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật TTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án

HĐXX xét thấy: Ngày 28/5/2020, ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị N1 đã ký Hợp đồng vay vốn Ngân hàng TMCP B số: HDTD79C202052. Số tiền được giải ngân cho ông Q, bà N1 vay là: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thời gian cho vay là 48

4

tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 28/5/2024, mức lãi suất là 9%/năm, phương thức áp dụng lãi suất cho vay là lãi suất cố định được tính trên tổng dư nợ gốc ban đầu; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi xuất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%.

Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu phía nguyên đơn xuất trình, quan điểm của phía bị đơn, xét thấy Hợp đồng tín dụng nói trên, hai bên đã tự nguyện giao kết, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đây là sự thỏa thuận, tự nguyện giữa các bên, không bên nào bị ép buộc. Ông Q, bà N1 khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng và thực hiện các thủ tục liên quan đến việc vay vốn của Ngân hàng TMCP B, tình trạng nhận thức đầy đủ, nhận thức rõ về mức lãi suất và phương thức áp dụng lãi suất của Hợp đồng tín dụng, quyền, nghĩa vụ phát sinh khi tham gia ký kết, thực hiện hợp đồng. Do vậy các nội dung thỏa thuận của hợp đồng và văn bản khác kèm hợp đồng tín dụng HDTD79C202052 ngày 28/5/2020 có hiệu lực cần phải được tôn trọng. Phía Ngân hàng TMCP B đã giải ngân cho ông Q, bà N1 vay vốn đúng như thỏa thuận hợp đồng; ông Q, bà N1 đã ký nhận đủ tiền gốc vay, đã thực hiện trả được một phần tiền gốc và tiền lãi. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q, N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/11/2022 và bị chuyển nợ xấu quá hạn. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B là phù hợp với các quy định tại:

  • Điều 463 BLDS 2015 quy định tại về Hợp đồng vay tài sản: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Đồng thời phù hợp với quy định Khoản 1 Điều 466, Khoản 1 Điều 468 của BLDS.

Luật các tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010 quy định:

  • Khoản 16 Điều 4: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
  • Khoản 2 Điều 91: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
  • Điều 95: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng...".
  • Điểm a Khoản 3 Điều 98 quy định Ngân hàng được: “Cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay”.

Ngoài ra, tại Điều 7. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP - Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng:

5

1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất.

2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.

Biểu kê dư nợ gốc và lịch sử trả nợ của Ngân hàng TMCP B đã được Tòa án tống đạt cho ông Q, bà N1. Bản thân ông Q, bà N1 cũng xác nhận số dư nợ gốc như Ngân hàng kê khai, xin xóa lãi. Đại diện Ngân hàng TMCP B tham gia tố tụng cam kết diễn biến lịch sử trả nợ của khách hàng, được thể hiện bằng phần mềm (tự động) trong toàn hệ thống Ngân hàng, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và bảo đảm phù hợp quy định của pháp luật; các bảng sao kê bảo đảm tính pháp lý đã được Ngân hàng giao nộp theo yêu cầu cung cấp chứng cứ của TAND TP Hòa Bình.

Lập luận và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: tuyên nghĩa vụ liên đới trả nợ của ông Q, bà N1 đối với Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh H – Phòng G là:

  • Dư nợ gốc: 39.514.000 đồng.
  • Lãi và lãi quá hạn trên dư nợ gốc: 18.371.928 đồng, trong đó bao gồm:
    • Lãi trên dư nợ gốc theo hợp đồng (09%/năm): 14.326.027 đồng
    • Lãi quá hạn trên dư nợ gốc theo hợp đồng (150% lãi vay trong hạn): 4.045.900 đồng.

Trên cơ sở tự nguyện của nguyên đơn (tại phiên tòa) phù hợp với quy định pháp luật nên cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về:

  • Phạt lãi 10% theo hợp đồng: 1.080.074 đồng

Như vậy, tổng số tiền cần buộc ông bà Q – Nhung: 57.885.928 đồng (Năm mươi bảy triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi tám đồng), trong đó bao gồm nợ gốc và nợ lãi như diễn giải trên.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 06/7/2024) ông Q, bà N1 còn phải tiếp tục liên đới nghĩa vụ trả dư nợ lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: HDTD79C202052 ngày 28/5/2020 (Không phạt lãi) cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay là phù hợp.

3. Về án phí: ông Q, bà N1 còn phải liên đới chịu án phí DSST theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật TTDS; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội và Đ b Khoản 1 Mục II, Phần A - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326 (Cụ thể: bằng 5% số tiền 57.885.928 đồng nêu trên).

6

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí DSST và được hoàn trả tạm ứng án phí DSST đã nộp 1.069.645 đồng (Một triệu không trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) theo biên lai thu số: 0004850 ngày 13/4/2023, tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hòa Bình.

Từ những nhận định trên; HĐXX căn cứ:

  • Khoản 3, Điều 26; Khoản 1 Điều 36; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 186; Điều 217, Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật TTDS;
  • Điều 429 BLDS 2015
  • Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Khoản 1 Điều 468 của BLDS 2015;
  • Khoản 16 Điều 4; Khoản 2 Điều 91; Khoản 1 Điều 95; Điểm a Khoản 3 Điều 98 - Luật các tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010;
  • Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật TTDS;
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội và Đ b Khoản 1 Mục II, Phần A - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về khoản Phạt lãi 10% theo hợp đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B: Tuyên buộc ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị N1 phải liên đới nghĩa vụ phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền: 57.885.928 đồng (Năm mươi bảy triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi tám đồng), tính đến ngày 05/7/2024; trong đó bao gồm:
    • Dư nợ gốc: 39.514.000 đồng
    • Lãi và lãi quá hạn trên dư nợ gốc: 18.371.928 đồng

    Đồng thời buộc ông Bùi Văn Q và bà Phạm Thị N1 còn phải tiếp tục liên đới nghĩa vụ trả khoản tiền lãi trong hạn, quá hạn phát sinh tiếp theo sau ngày xét xử sơ thẩm, trên số dư nợ gốc chưa trả, tính từ ngày 06/7/2024 cho đến khi ông Q, bà N1 tất toán toàn bộ khoản vay theo đúng thỏa thuận về lãi suất các bên đã ký kết trong hợp đồng HDTD79C202052 ngày 28/5/2020 do Ngân hàng xuất trình khởi kiện. Không “phạt lãi”.

  3. Về án phí: ông Q, bà N1 còn phải liên đới chịu án phí DSST là: 2.894.296 đồng (Hai triệu tám trăm chín mươi tư nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng).

    Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí DSST và được hoàn trả tạm ứng án phí DSST đã nộp: 1.069.645 đồng (Một triệu không trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) theo biên lai thu số: 0004850 ngày 13/4/2023, tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hòa Bình.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm; quyền

7

kháng cáo của người vắng mặt (ông Q, bà N1) được tính từ ngày tống đạt hợp lệ Bản án hoặc niêm yết công khai Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND Tp Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - Chi cục THADS
  • Tp Hòa Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đinh Lan Hương

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DSST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger