Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 09/2024/HS-ST

Ngày: 05/01/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Mai;

2/ Ông Nguyễn Hữu Đệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, hồi 17 giờ 00 phút, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 298/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm: 1990; Tại: Thanh Hoá; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Khu phố C, phường P, TP ., tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn C; sinh năm: 1958; Làm ruộng; Con bà: Lê Thị S (Đã chết); Vợ: Vũ Thị T; sinh năm: 1989; Tự do; Con: Có 01 con, sinh năm 2018; Gia đình bị cáo có 04 chi em, bị cáo là con thứ tư.

Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự.

Năm 2020: TAND TP Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng.

Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- C2.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 11 tháng 10 năm 2023, tổ công tác Công an xã N làm nhiệm vụ tại địa bàn xóm Đ thuộc thôn K, xã N, huyện Đ, TP Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn B (SN: 1990; HKTT: Khu phố C, phường P, TP ., tỉnh Thanh Hóa) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện 01 gói giấy có kích thước (2x1) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine tại bên trong túi quần bên trái của B. Ngoài ra tổ công tác không phát hiện, tạm giữ đồ vật gì khác.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Văn B về trụ sở Công an xã N để xác minh làm rõ.

Ngày 11/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra quyết định trưng cầu giám định Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy thu giữ của Nguyễn Văn B. Tại bản kết luận giám định giám định số 6901/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,170 gam./.

Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Văn B có kết quả dương tính với chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận hành vi như đã nêu trên và khai: Ngày 09/10/2023, Nguyễn Văn B đi lên Hà Nội để tìm việc làm. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/10/2023, B đi xe buýt đến khu vực khu công nghiệp N thuộc địa phận thôn K, xã N, huyện Đ, TP Hà Nội. Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, B gặp và hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết đứng ven đường K, huyện Đ (B không nhớ vị trí cụ thể). Sau khi mua được ma túy, B cất ma túy vào bên trong túi quần bên trái rồi đi tìm quán nước để ngồi. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi đang ngồi uống nước B bị tổ công tác công an xã N phát hiện, kiểm tra và bắt giữ.

Mục đích B tàng trữ, cất giấu số ma túy trên để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho B ở khu công nghiệp N, huyện Đ do B khai không biết nhân thân lai lịch của người này, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Về vật chứng thu giữ:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,140 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định (PC09 thu mẫu giám định:0,030 gam) thu giữ của B có chữ kí của Nguyễn Văn B, giám định viên và cán bộ niêm phong. Xét thấy ma túy là chất cấm là vật chứng của vụ án được lưu giữ tại Kho tang vật - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Bản Cáo trạng số 277/CT-VKSÐA ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, luận tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
  • - Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 0.140 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.

[2] Về hành vi và tội danh: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 11/10/2023, Nguyễn Văn B có hành vi Tàng trữ trái phép 0,170 gam ma túy loại Heroine tại thôn K, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Theo kết luật giám định, số lượng heroin bị cáo tàng trữ là 0,170 gam. Mục đích tàng trữ để sử dụng.

Nguồn gốc số ma túy trên có được là do bị cáo B gặp và hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết đứng ven đường K, huyện Đ (B không nhớ vị trí cụ thể). Sau khi mua được ma túy, B cất ma túy vào bên trong túi quần bên trái rồi đi tìm quán nước để ngồi. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi đang ngồi uống nước B bị tổ công tác công an xã N phát hiện, kiểm tra và bắt giữ xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy không làm chủ được bản thân nên phạm tội. Bị cáo cam kết sửa chữa sai lầm và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ có đủ căn cứ khẳng định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đặc biệt là bệnh HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận số ma túy thu được để bị cáo sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

c) ..........Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.........”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự. Nhân thân của bị cáo xấu. Năm 2020, Toà án nhân dân thành phố Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, nhân thân xấu, đã từng được cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Mặc dù các đã được giáo dục bằng pháp luật nhưng bị cáo tiếp tục phạm tội về ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Các vật chứng liên quan đến tội phạm cần được xử lý theo quy định của pháp luật. Áp dụng Điều 46; 47; khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0.140 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • + Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 46, 47 Bộ luật Hình sự;
  • + Khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Nguyễn Văn B 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 0.140 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án. (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Đ).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - UBND xã phường Phú Sơn, TP. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Triệu Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Bình phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger