|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 04-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Lập |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Cao Anh Tuấn |
| Ông Trịnh Hữu Vĩnh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 5 và ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn Á; sinh ngày 21 tháng 5 năm 1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống hiện nay: số nhà D, đường L, tổ dân phố F, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn K, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969; vợ: Trần Thị Tiểu M, sinh năm 1995; con: có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 28/12/2023. Hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 cho đến nay “có mặt”.
- Họ và tên: Trần Công S; sinh ngày 17 tháng 12 năm 1994 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống hiện nay: Hẻm C, đường P, tổ dân phố G, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Công L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 28/12/2023. Hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 cho đến nay “có mặt”.
- Họ và tên: Phùng Kim P1; sinh ngày 14 tháng 06 năm 2000 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống hiện nay: số nhà C, thôn D, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phùng Kim T (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1972; vợ: Lê Huỳnh Mỹ L1, sinh năm 2002; con có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 28/12/2023. Hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 cho đến nay “có mặt”.
- Họ và tên: Lê Quang T2; sinh ngày 25 tháng 11 năm 2000 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: số nhà A, đường N, tổ dân phố E, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn C1, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1977; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 28/12/2023. Hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 cho đến nay “có mặt”.
- Họ và tên: Trần Thị L2; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1955 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: số nhà C, đường N, tổ dân phố B, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 04/12 quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông: Trần N và bà Nguyễn Thị L3 (đã chết); chồng Nguyễn Trung Đ, sinh 1955; con có 02 con lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 cho đến nay “có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Tiểu M, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn Đạ M’ri, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng
- Anh Phùng Kim S1, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh S1 có mặt, chị M vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 25/12/2023 tại quán C2 do Trần Thị L2 quản lý thuộc tổ dân phố B, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, Công an thị trấn Đ bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2 đang có hành vi đánh bài tiến lên được thua bằng tiền. Số tiền thu tại chiếu bạc là 5.720.000 đồng (năm triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 25/12/2023 Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2 đến quán C2 tại tổ dân phố B, T, huyện Đ uống cà phê rồi rủ nhau đánh bài tiến lên được thua bằng tiền. Lê Quang T2 nhờ Trần Thị L2 – chủ quán C2 mua bài, một lúc sau L2 mang 05 bộ bài tú lơ khơ 52 lá cho Á, P1, S, T2 đánh bài thắng thua bằng tiền. Trần Văn Á mang theo khoảng 1.500.000 đồng; Trần Công S mang theo số tiền khoảng 1.500.000 đồng; Phùng Kim P1 mang theo số tiền khoảng 1.200.000 đồng, Lê Quang T2 mang theo số tiền khoảng 1.500.000 đồng. Tất cả các đối tượng đều sử dụng số tiền mang theo để tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Trong quá trình các đối tượng đánh bài thắng thua bằng tiền Trần Thị L2 là người cung cấp bài và để cho các đối tượng đánh bài ăn tiền tại quán cà phê thuộc quyền quản lý của L2.
Về hình thức đánh bạc, các đối tượng khai nhận: sử dụng bộ bài túlokho 52 lá chia đều cho mỗi người 13 lá để đánh với nhau theo hình thức tiến lên, kết thúc mỗi ván bài thì người về nhất ăn người về cuối 20.000 đồng, người về nhì ăn người về thứ ba 10.000 đồng; quá trình chơi nếu ai bị chặt heo đỏ (2 đỏ) thì thua 20.000 đồng, bị chặt heo đen (2 đen) thì thua 10.000 đồng cho người chặt, chặt ba đôi thông, tứ quý thì thua 20.000 đồng, người về cuối bị thúi heo, đôi thông, tứ quý thì thua tiền như bị chặt heo, đôi thông, tứ quý cho người về thứ ba; nếu người về nhất mà về ba bích cuối cùng thì ăn tất cả những người còn lại mỗi người 30.000 đồng, khi có người về thứ nhất mà có người chưa ra bài (bị nhốt) thì người đó thua 40.000 đồng cho người về nhất. Trong quá trình các đối tượng đánh bài thắng thua bằng tiền thì Trần Thị L2 mang thêm 01 ca trà đá, lúc này đối tượng vẫn đang tiếp tục đánh bài và để tiền đánh bài trước mặt chỗ ngồi của mình, Trần Thị L2 để các đối tượng đánh bài tại chòi của mình đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì Công an thị trấn Đạ M’ri bắt quả tang về hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.720.000 đồng và một số đồ vật, tài sản khác.
* Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã thu:
- - Phát hiện và tạm giữ đồ vật tài liệu trên chiếu bạc: Số tiền 5.720.000₫ (năm triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá;
- - Tạm giữ của Phùng Kim P1: 01 ví da bên trong có số tiền 15.000 đồng; 01 xe máy hiệu exciter, màu trắng biển số 69E1-52011, số khung RLCUG 1010LY298975, số máy G3D4E1070032
- - Tạm giữ của Trần Công S: 01 ví da màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Công S, 01 căn cước công dân mang tên Trần Công S, số tiền 25.000 đồng;
- - Tạm giữ của Lê Quang T2: 01 xe máy màu xanh nhãn hiệu Vario, biển số 49L1-14558, số khung MH1K4118LK963172, SỐ MÁY KF41E-1965586
- - Tạm giữ của Trần Văn Á: 01 ví da màu đen bên trong không có gì; 01 xe mô tô màu xanh đen, nhãn hiệu AirBlade biển số 49L1-18717, số khung RLHKF5301NZ 0111561, số máy KF53E-0023038. (BL: 85-87, 88-89; 90;)
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ, xác định và đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm:
- - Trả lại tài sản cho Phùng Kim S1: biển số 69E1-52011;
- - Trả lại tài sản cho Lê Quang T2: 01 xe mô tô biển số 49L1-14558;
- - Trả lại tài sản cho Trần Thị Tiểu M: 01xe mô tô biển số 49L1-18717
- - Trả lại tài sản cho Trần Công S: 01 ví da màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Công S, 01 căn cước công dân mang tên Trần Công S;
- - Trả lại tài sản cho Trần Văn Á: 01 ví da màu đen;
- - Trả lại tài sản cho Phùng Kim P1: 01 ví da màu đen.(BL 91-92; 93-98)
Đối với số tiền 5.760.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá. Hiện đạng tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-ĐH ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng để xét xử đối với: Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2, Trần Thị L2 về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về hành vi phạm tội: Các bị cáo Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2, Trần Thị L2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật như cáo trạng đã nêu; xác định cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; không bị oan sai; tại phần tranh luận các bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Các vấn đề khác: Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến bổ sung hay ý kiến gì khác. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định:
Về tội danh và mức hình phạt: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2, Trần Thị L2 phạm tội “Đánh bạc”.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 17, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn Á và Phùng Kim P1. Đề nghị xử phạt bị cáo các bị cáo Trần Văn Á và Phùng Kim P1 từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng thử thách.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 17, Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Trần Công S, Lê Quang T2, Trần Thị L2 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng:
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 01 bộ bài túlơkhơ 52 lá.
- + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.760.000 đồng.
- * Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm: Trả lại tài sản cho Phùng Kim S1: biển số 69E1-52011; trả lại tài sản cho Lê Quang T2: 01 xe mô tô biển số 49L1-14558; trả lại tài sản cho Trần Thị Tiểu M: 01xe mô tô biển số 49L1-18717; trả lại tài sản cho Trần Công S: 01 ví da màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Công S, 01 căn cước công dân mang tên Trần Công S; trả lại tài sản cho Trần Văn Á: 01 ví da màu đen; trả lại tài sản cho Phùng Kim P1: 01 ví da màu đen nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó xác định các Cơ quan tiến hành tố tụng; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng người này vắng mặt và không đến Tòa tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo. Căn cứ vào các Điều 292; 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về xác định tội danh:
Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 25/12/2023, tại quán C2 do Trần Thị L2 quản lý thuộc tổ dân phố B, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2 rủ nhau đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền. Các bị cáo sử dụng bài túlơkhơ 52 lá để đánh bạc từ khoảng 17 giờ đến 20 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị trấn Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.760.000 đồng (năm triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng) và một số tài sản, đồ vật khác. Bị cáo Trần Thị L2 là người cung cấp bài và để cho các bị cáo Trần Văn Á, Trần Công S, Phùng Kim P1, Lê Quang T2 đánh bài thắng thua bằng tiền tại địa điểm do mình quản lý, sở hữu. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, cáo trạng số 11/CT-VKS-ĐH ngày 13 tháng 5 năm 2024 truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, phạm tội thuộc trường hợp có đồng phạm; gây bức xúc lớn trong dư luận xã hội. Các bị cáo nhận thức được rằng hành vi đánh bạc bị Nhà nước nghiêm cấm nếu bị phát hiện sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều đó cho thấy các bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do vậy, cần thiết phải ra một bản án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo.
[5] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, đây là lần đầu các bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo sử dụng tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.760.000 đồng (năm triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng), nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình Điều tra - Truy tố - Xét xử các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Trần Thị L2 được Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng bằng khen “Đã góp công, góp sức vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” và là người bị thương tật 4/4; bị cáo Lê Quang T2 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ tặng giấy khen “Bí thư Chi đoàn TDP 5, Đoàn T4 thị trấn Đạ M’ri”; Bị cáo Trần Công S có ông N1 là ông Nguyễn Văn T3 được Chủ tịch N2 tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự.
Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên Tòa sơ thẩm các bị cáo Trần Văn Á, Phùng Kim P1 không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh là bản thân mình hoặc có người thân thích có công với cách mạng, là Liệt sỹ... nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn Á, Phùng Kim P1; đề nghị Hội đồng xem xét áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[7] Về quyết định hình phạt: Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, phân hóa vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
+ Đây là vụ án đồng phạm nhưng giản đơn, các bị cáo phạm tội do nông nổi và bộc phát; đây là lần đầu tiên các bị cáo phạm tội liên quan đến hành vi đánh bạc; số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là không đáng kể và mức độ sát phạt cũng không lớn, sau khi được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho đến nay các bị cáo chấp hành tốt các quy định của pháp luật nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi làm việc ổn định, có nơi cư trú rõ ràng và các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo Trần Văn Á, Phùng Kim P1 hưởng án treo; các bị cáo Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2 cải tạo không giam giữ mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đã đủ sức răn đe đối với các bị cáo. Đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với các bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Văn Á, Phùng Kim P1, Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2.
[9] Về nghĩa vụ bị khấu trừ thu nhập: Các bị cáo Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2 không có tài sản riêng, thu nhập ổn định hoặc có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Thời gian các bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 28/12/2023 không được xem xét để trừ vào thời gian thử thách của án treo cũng như vào thời gian chấp hành hình phạt cải không giam giữ.
[11] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng là công cụ, phương tiện mà các bị cáo phạm tội và không còn giá trị sử dụng hoặc tài sản thu nhưng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 bộ bài túlơkhơ 52 lá.
- + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng là vật, tiền dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.760.000 đồng (năm triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng),
[12] Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, gồm: Trả lại tài sản cho Phùng Kim S1: biển số 69E1-52011; trả lại tài sản cho Lê Quang T2: 01 xe mô tô biển số 49L1-14558; trả lại tài sản cho Trần Thị Tiểu M: 01xe mô tô biển số 49L1-18717; trả lại tài sản cho Trần Công S: 01 ví da màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Công S, 01 căn cước công dân mang tên Trần Công S; trả lại tài sản cho Trần Văn Á: 01 ví da màu đen; trả lại tài sản cho Phùng Kim P1: 01 ví da màu đen nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[13] Về án phí các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Á, Phùng Kim P1, Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; các Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Trần Văn Á, Phùng Kim P1.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Á 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phùng Kim P1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 36 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 5 Thông tư liên tịch 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023, đối với bị cáo Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2
Xử phạt bị cáo Trần Công S 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Quang T2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Thị L2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
* Đối với những người người xử phạt cho hưởng án treo:
Giao bị cáo Trần Văn Á cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án; Giao bị cáo Phùng Kim P1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát. giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Đối với những người người xử phạt cải tạo không giam giữ:
Giao các bị cáo Trần Công S, Lê Quang T2 và Trần Thị L2 cho Ủy ban nhân T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng trong vụ án:
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bộ bài túlơkhơ 52 lá.
- + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 5.760.000 đồng (năm triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng),
(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Phiếu Ủy nhiệm chi ngày 20/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Kho bạc Nhà nước huyện Đ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phùng Kim S1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Tiểu M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần tài sản có liên quan).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lập |
10
11
Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng về đánh bạc
- Số bản án: 09/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa xử có tội
